Khi tôi biết đóng thẳng chiếc đinh đầu tiên lên tường, má lắc đầu thở dài. - Đàn bà, chỉ nên biết những thứ trong chừng mực mình cần biết. Đàn ông lấy một người đàn bà, chứ không ai tự cưới cho mình một người đàn ông nữa trong nhà đâu con.  Tôi cười, thấy mình chua chát với ý nghĩa nhân sinh của kiếp đàn bà. - Con chỉ cố sống mạnh mẽ như má thôi mà. - Đâu cần phải thế, hở con? Má là người đàn bà từng trải, và má hiểu một người đàn bà cần những gì đủ chỉ để làm một người đàn bà. Nhưng tôi chỉ mới là một đứa con gái mới phát tướng làm thiếu nữ. Tôi đang đi theo một bản năng dẫn dắt. Đi theo thứ bản năng dư thừa cảm thức nhưng lại thiếu lý trí, nên có lẽ mọi thứ trở nên quá mù mờ. *** Má nói đàn bà cần nhiều nhất là sự nhẫn nhịn. Tôi không có sự nhẫn nhịn lành tính của đàn bà. Mỗi lần bắt gặp tôi đánh nhau với một thằng con trai trong xóm, bao giờ má cũng mặc kệ tụi nó đánh tôi bầm tím tay chân. Má mang tôi về, vừa tha thuốc dấu, vừa cằn nhằn. - Đàn bà con gái, chỉ nên nói những thứ người khác muốn nghe. Đừng có lắm lời, cãi nhiều chỉ khổ thân. Má vừa xoa chỗ bầm, vừa lẩm bẩm khuyên nhủ. Những cục máu biến màu dưới da tôi tan đi. Lời của má nói cũng lảng vảng loang dần, như những bóng ma khói sương trong buổi chiều cô tịch, nắng đổ dài lên nóc tranh của ngôi nhà thiếu hơi đàn ông. *** Tình yêu tới, đôi khi như một kẻ du lịch lạc loài và không được chào đón. Những bà thầy bói nửa thánh nửa tà phán, số tôi lấy chồng lớn tuổi. Người nói vía tôi nặng, nên cần người lớn tuổi hơn tôi gánh vác. Người nói tiền kiếp tôi sinh trong một nhà hiếm muộn, được phước lộc nhiều nên kiếp này phải đầu thai vào một gia đình chồng… muộn vợ để trả ơn. Má dẫn tôi qua từng ấy chỗ, mỗi cái Tết mỗi bà thầy. Lần nào má cũng chỉ thở dài, vắn tắt nói cảm ơn, vén tấm rèm bốc mùi nhang trầm hoai hoải. - Về con. Chắc chỉ nói vậy thôi. Chồng con là duyên số! Càng lớn, tôi càng thấy má lẩn thẩn. Nhưng niềm tin của má vào những lời phán u u mê mê hoặc, nửa trần thế nửa địa phủ kia càng lớn lên. Má dòm ngó những người xúm xít quanh tôi. Má dang cánh như gà mẹ che cho gà con trước mỏ diều hâu. - Má à! Con lớn rồi mà. - Ai mà biết lớn rồi thì còn chuyện gì nữa? - Chuyện gì tới nó tới má à! - Kệ tao. Lo kệ tao lo…. Má dỗi. Mái tóc trắng một nửa của má rung rung lấp ló những đốm sáng lanh chanh nhảy nhòa cả mắt. *** Tôi yêu bạn cùng lớp đại học, hơn tôi hai tuổi, ma mãnh hơn, thông minh hơn, nhưng không đủ già để có thể trở thành chồng tôi như dự kiến của thánh thần và những thiên sứ mặc áo thụng đen, nói lào khào trong hương nhang khói mù mịt của họ. Tôi không kể cho Thức nghe về những lời phán nguyền về số phận đường tình duyên sau này của mình. Tôi đang yêu, yêu mãnh liệt và tự do, yêu không cần ngày mai sẽ còn có thế giới này hay không. Tình yêu không toan tính thường chỉ sống qua từng ngày, chứ không dài theo năm tháng và những kích thước có thể ước lược của không gian. Thức đóng những mắc đinh trên tường chắc chắn hơn. Những nụ hôn ngẫu hứng nồng nàn và ngọt. Thỉnh thoảng, Thức nếm những vá canh âm ấm trên bệ bếp cùng tôi, môi chạm môi. Nhà Thức ở phố. Những hôm không học ở Thủ Đức, Thức rủ tôi lên Văn Khoa ở đường Đinh Tiên Hoàng ngồi. Từ khi trường xây khu mới, wireless tràn ngập khu giảng đường lát đá hoa cương màu nâu đỏ, Thức mang thêm laptop lên trường. Sau giờ học, hai đứa lẩn quẩn vào mạng, viết blog, comment qua lại và thỉnh thoảng lén hôn nhau khuất sau bệ đá đen bóng. Thức viết những entry rất trầm uất trên blog. Tôi đọc sau những nụ hôn, bàng hoàng thấy xa lạ và hình như là không hiểu được Thức bao nhiêu. *** Tháng năm. Những buổi học cuối kỳ ồn ào co cụm trong nắng nóng. Thức đưa tôi về nhà Thức ở phố. (Với tôi, chỉ là con phố như mọi con phố khác). Hai đứa nằm lăn ngủ ngả ngớn bên nhau. Chạng vạng. Ba Thức đi làm về, thả cặp trên bộ salon, ngay cạnh chân con chó lười biếng đang nghếch mõm lên chân hai đứa tôi ngủ ngày. - Ăn gì chưa mà ngủ hai đứa. Thức gãi gáy, làu bàu trong cơn mê ngủ. - Dạ rồi… Để con ngủ đi mà… 7 giờ tối. Thức đưa tôi về. Ngôi nhà u u sáng hai ô cửa sổ phòng phía Tây, như đôi mắt nhoài theo bóng đêm để bắt chân mặt trời ở lại. *** Sài Gòn bắt đầu đẫm mình trong những cơn mưa. Thức chở tôi ào qua những khung kính lấp lánh nước no nê ánh đèn. Sau lưng, gió bị bỏ rơi hực lên những hồi vụt vụt không rõ là giận hờn hay tức tối. Tôi ở nhà trọ cấp bốn. Thức ở nhà mặt phố có sân và những con chó lười biếng sủa dăm ba tiếng đáp lại chuông cửa rồi thôi. Đôi khi, hai đứa cứ chở nhau chạy đi chạy về giữa hai nơi. Tôi bảo, khi nào đoạn đường này ngắn bằng một centimet chúng tôi sẽ lấy nhau. Thức nhìn trừng trừng vào những khóm hoa má Thức trồng trong chậu kiểng của ba. Chúng chết khô, quẹo đầu vào nhau. Những lúc như vậy tôi thấy Thức xa xôi, như một cái bóng mờ trong những cơn ác mộng, cứ bám mãi sau lưng, nhưng tôi lại chẳng bao giờ với tới được. *** Sinh nhật Thức hai mươi ba tuổi là một ngày mưa. Thức đến nhà tôi trong bộ dạng ướt sũng, mặt đầy nước. Không biết là nước mắt hay nước mưa. - Đi chơi với anh nghen. Giọng Thức run rẩy, ướt nhem. Tôi lặng lẽ chui vào nhà tắm thay đồ. Thức đi theo, đứng ngay lưng cửa gấp khi tôi chéo tay cài móc áo ngực sau lưng. Những giọt mưa tròn trịa còn nhỏ giọt trên cánh mũi Thức. Chúng tôi nhìn nhau. Lưng trần. Mặt trần. Những nỗi đau trần trụi buông thả vào nếp áo chưa khép kỹ, rơi vào nhau ở một khoảng hõm mênh mông. - Ba má anh ly dị rồi, hôm nay… Thức đẩy tôi vào tường. Cánh tay trái còn nằm tréo dưới lưng, tưng tức. Thức úp mặt vào ngực tôi khóc. Những giọt nước mắt đàn ông lành lạnh cuốn trôi đời thiếu nữ của tôi vào dĩ vãng. *** Tôi không còn cầm búa đóng đinh vào những bức tường trơ khốc những vụn cát không tô kỹ. Những cái móc treo tường vừa khít và chắc chắn. Tay tôi dành để Thức cầm. Thức thường tẩn mẩn đánh thức cảm giác đầy ắp trong tôi bằng những nụ hôn ngắn, chi chít khắp cánh tay, da mặt, trên vùng ngực tôi đã để Thức khóc trôi đời thiếu nữ của mình. Khi những cảm giác bị đẩy lên đến định mức giới hạn cuối cùng, tan dần ra rồi rơi thõm xuống, lòng tôi rơi vào cảm giác trơ khấc khô khan. Ra vậy! Cứ nghĩ ngợi và tin tưởng mù quáng rằng tôi sẽ thành đàn bà bởi một người đàn ông khác, trong một khung cảnh khác… Nhưng rốt cuộc, cũng chẳng có gì khác nhau giữa người này và người kia. Cũng chẳng có gì liên quan giữa tôi và Thức trong việc tôi đã trở thành một người đàn bà. Đơn giản chỉ là như vậy. Như một cái giá tôi phải trả cho chuyện tình yêu, như cuộc sống này vốn dĩ nó vậy. Thế thôi! *** Thức vẫn viết những entry xa lạ. Tôi vừa viết đề tài tốt nghiệp vừa comment hết câu này đến câu khác. Chúng tôi thôi gặp nhau, hệt như một mối dán bằng keo chưa kịp khô đã bị dính nước. Rã ra, rơi lả tả như những con thiêu thân thả mình vào đêm. - Mình không gặp nhau một thời gian. Tôi nói trong khi khuấy cà phê trong một góc quán khuất, không biết là mình đang đề nghị, đang hỏi hay đang tự trả lời cho chính mình. Thức không trả lời. Chỉ có tiếng đá chạm vào thành ly lanh canh. Không buồn, không vui! Bàn tay Thức để hờ trên ve áo tôi bất động. Đã hai tuần, giữa chúng tôi có cái gì đó lợn bợn, khó hiểu và lặng lẽ. Tưởng như thời con gái của tôi đã hóa ma, treo lơ lửng giữa tôi và Thức như một thứ trang trí. Với tôi, nó gần như chỉ là một thứ hình thức trá hình, nhưng cũng không đồng nghĩa là nó vô giá trị. Tôi không có cảm giác khác nhau giữa cuộc sống của một người đàn bà và một nàng trinh nữ. Nhưng tôi cũng không còn là tôi trước những ngày đó nữa. Cái cảm giác đó vô hình, bất động, nhưng nó có sự im lặng chứng minh rằng nó tồn tại. Nếu tôi và Thức không còn gặp nhau, có lẽ nó cũng sẽ tự biến mất. *** Tôi mở chuỗi ca khúc Bài không tên của Vũ Thành An trên máy tính vào buổi đêm. Giữa tôi và Thức bây giờ là sự cô độc xa lạ. Thức cô độc trong cuộc sống của Thức. Tôi cô độc trong cuộc sống của tôi. Hai sự cô độc xa lạ với nhau. Kể cả khi thân xác chúng tôi gắn kết, bản thể của chúng tôi vẫn nằm rời như hai hạt cát bị sóng đánh tời trên bãi biển. Tôi đã nghĩ, trong lúc Thức suy sụp và đau khổ, chúng tôi có thể tiến vào trong tâm thức của nhau, tôi có thể lấy mảnh dằm vừa xóc vào lòng Thức. Tôi đã thử. Nhưng chúng cắm quá sâu. Sâu hơn sự thấu hiểu của một người con gái lần đầu tiên bước qua vùng tối thời thiếu nữ. Tôi chỉ không biết với tôi, nơi nào là dĩ vãng. Trước khi tôi trở thành người đàn bà của Thức, hay sau đó mới là bóng đêm không tên của thời gian? *** Tôi kể má nghe về Thức, rất lâu sau khi chia tay. Tôi cũng không hẳn coi đó là sự chia tay. Tôi nói với má rằng hai đứa không còn gặp nhau lâu lắm rồi, không có cảm giác gì về nhau lâu lắm rồi. Vậy thôi! Má thở dài, rất dài. Dài hơn cả những nụ hôn khi yêu của Thức. Tiếng thở dài của một người đàn bà có trả lại sự trinh trắng cho một người đàn bà khác không? Chắc không. *** Má không còn đi bói duyên cho tôi nữa. Tôi và Thức không gặp nhau. Cuộc sống chìm vào giữa những thói quen vô thức. Quên cũng là một thứ cảm thức vô giác. Thỉnh thoảng giật mình, như đi qua một vùng mộng du rất rộng rồi nhận ra rằng mình đang đi lạc. Nhiều khi, cái mà người ta nghĩ rằng khó quên nhất, thì lại là thứ chẳng khi nào họ nhắc nhớ được giữa những suy nghĩ bộn bề trộn lẫn vào nhau trong cuộc sống. Những thứ một nói quên, hai nói quên thì lại nhớ. Chẳng ăn nhập gì vào nhau! Tôi không thuộc dạng thiếu nữ chính chuyên, không thuộc hẳn vào loại người hư hỏng. Giữa má. Giữa Thức. Tôi đứng giữa mọi thứ, lững lờ như một cái bóng chán nản vay mượn sự khổ hạnh để tự hành xác bản thân. Thỉnh thoảng, tôi đi một mình đến những điểm bói ngày xưa, rút những quẻ thăm rủi may và ngậm ngùi cười với những giọng phán xử lên đồng. Tôi về nhà, mang theo hương nhang trầm trong những căn phòng tối hù hù, hỏi má. - Má không tin vào duyên số của con nữa sao? - Thì duyên số nó vậy mà. Con gái không còn trinh bói không linh… Má ngoảnh mặt, ngẩng đầu nhìn ngọn dừa đang lao xao hát, nói mà như an ủi chính mình. - Cái gì tới sẽ tới. Tôi đón xe về phố. Phố thường ồn và bụi. Những con phố tôi chỉ coi là phố. Phố nào cũng chỉ là phố. Không có gì khác nhau giữa một con phố còn con gái với một con đường dấu chân người đã giẫm nát nhan sắc. Ở đó, tôi chạy trốn được chính sự hoang hoải của bản thân mình. *** Một buổi chiều, gặp Thức trong quán cà phê cũ. Thức ngồi viết blog một mình. Ly cà phê của thói quen đổ bóng dài lên chỗ tôi thường ngồi còn để trống. Tôi ngồi nhìn Thức, không gọi tên, không nhắc nhớ. Tôi pha cà phê, uống những ngụm nhỏ. Mái tóc Thức xõa che kín trán. Tôi cho thêm đá vào ly. Thức lúc lắc cho nước quanh thành ly rỏ hết xuống bàn, ngón tay trỏ dài miết trên ô vuông cảm ứng điều khiển con trỏ nhấp nháy trên màn hình. Những thứ nguyên vẹn, gần gũi vậy đó, mà ngồi nhìn từ phía sau lưng, lại thấy từ chỗ mình đang đứng, để quay lại với kỷ niệm, là cả một quãng đường ngun ngút xa xăm những thứ mịt mờ vô hình. *** Những chiếc đinh trên tường long vữa, bóc hết lớp trát xi măng. Tôi đứng nhìn sự hủy diệt hằng ngày như đứng nhìn vào chính sự khô khốc và cô độc của một người đàn bà trót đi qua thời thiếu nữ quá sớm. Tôi ngồi sau lưng Thức hằng ngày, thấy con đường dĩ vãng ngày càng xa đích về. Tôi nghe Bài không tên số 4: “Đời con gái cũng cần dĩ vãng, mà em tôi chỉ còn tương lai…”. Tôi tự hỏi: Chúa tạo ra đàn bà để làm đàn bà? Hay Chúa tạo ra đàn bà chỉ để đàn ông biến họ thành đàn bà? Vậy, dĩ vãng của tôi có trước? Hay tôi có trước? 1.
- Làm xong thủ tục thì gọi về nhà nhé? - Vâng Nàng mỉm cười với chú rồi xách va ly vào phi trường. Ông chú lúc nào cũng xem nàng như còn nhỏ dại. Phi trường sáng nay không đông lắm. Hàng ngày có bao chuyến bay nội địa từ đây. Để phòng ngừa trục trặc, nàng đã đến sớm. Cầm giấy và đến trước gate..., nàng ngồi vào ghế chờ. Sực nhớ đến lời chú dặn, nàng đi lại quầy điện thoại. Khỉ nỡm thật, không bao giờ nàng thèm nhớ đến tiền cắc của Mỹ. Đi shopping, chuyên môn nhờ người thân hay nhân viên siêu thị đếm giùm . Nhìn quanh. Một người đàn ông mang sắc phục sân bay. Nàng mỉm cười nói yêu cầu và xòe nắm tiền cắc trong tay. Ông ta đếm và tự tay bỏ vào ô của điện thoại - Allo? chú ạ? cháu làm xong thủ tục rồi. Cháu sẽ bay một giờ nữa. Khi nào đến Portland, cháu sẽ gọi về cho cô chú. Ngồi trên ghế đợi, nàng lơ đãng nhìn qua khung cửa. Mây trời xanh ngắt. Mầu trời và mầu nước biển, cái gì làm nàng ưa thích hơn? Không biết. Nhớ ngày xưa, nàng yêu hải quân vì mầu áo trắng tinh khôi, vì những bài hát nói về hoa biển. Nàng cũng yêu cả không quân vì bộ đồ bay trông thật lãng mạn và những đám mây bồng bềnh như những vồng hoa cải.. Trăm ngàn con sóng Tới tấp hôn bờ Làm sao biết được Sóng nào ngây thơ (quên tên tác giả).... Mấy câu thơ nhỏ dễ thương. Nàng thích. Ừ trăm ngàn con sóng đang tới tấp hôn bờ, con sóng nào là ngây thở "Nhưng anh sẽ vẫn nhận ra em, người đàn bà ngây thơ của anh dù đã hai chục năm trôi qua". Nàng mỉm cười khi nhớ lại lời khẳng định của chàng. Làm sao anh biết được? Bí mật! Chàng đã nói thế. Ừ thì để xem anh chàng bẻm mép làm gì để nhận ra người đàn bà ngây thơ! Bay. Bềnh bồng. Nàng nhìn xa xa. Chiếc cầu vĩ đại từ San Francisco trông thật đẹp. Chỉ mất hơn giờ để bay từ San Jose đến Portland. Vừa ra khỏi đường hầm, nàng đã nghe gọi: - Chị! Nàng mỉm cười: - Chào cưng. May há. Em đợi lâu không? - Có chút xíu hà. Ông xã em. Nàng mỉm cười với anh chàng Mỹ cao kều: - Hello, Kevin. Biết nói tiếng Việt không? Kevin nhe răng cười. Cô em họ liến thoắng: - Em ở sở, thu xếp định đi thì Kevin đòi đi cùng. Bây giờ em đưa chị về nhà. Chỉ có Tú thôi vì mẹ em làm ca từ trưa đến nửa đêm. Đường phố Portland có vẻ êm đềm hơn San Jose. Hai bên đường, thông trùng điệp.. Nhỏ em giải thích: - Chị xem, xe hơi ở đây luôn có biểu tượng của Portland là cây thông ở biển số xẹ. Ừ đúng vậy. Cô em lại chỉ: - Núi tuyết kìa chị? giờ này ở Portland chưa rơi tuyết đâu nhưng trên Núi tuyết thì có. Tụi em sẽ đưa chị lên đó cho biết thế nào là tuyết nhé? - Ok Căn nhà nhỏ xinh. Hoa hồng thật to trước hiên nhà. Bên Mỹ hoa hồng to quá. Cả hoa quỳnh cũng vậy! nàng chưa nhìn thấy hoa quỳnh nhưng mấy năm trước, người bạn già đã chụp hình những đóa quỳnh ở Mỹ, to và mầu đỏ về VN cho nàng. Từ khi sang Mỹ, nàng đã thấy hoa hồng. To quá. Nàng chẳng thích. Nàng thích những bông hồng BB vừa phải. Nàng thích những bông tường vi, rất giống hoa hồng mà nho nhỏ xinh xinh bên bờ giậu.. Từ thuở bé, nàng đã yêu những hình ảnh dân dã. Ao sen, giậu trúc, hòn non bộ, hàng rào tường vi, dâm bụt, chõng tre, bụi chuối.. Nàng không thích những cái hào nhoáng đồ sộ của thành thị. Nàng chỉ thích cái tiện nghi của nó thôi!
2.
- Hello? - Ủa, chi. Lan hả? - Ừ. - Sao chị lại nghe phone? - Thì đang ở nhà một mình? - Trời đất, mọi người đâu? - Nhỏ Thúy đi làm. Thanh biến đâu rồi đó. Tú cũng đi làm. Mợ thì nửa đêm mới về.. - Trời! Nè, bố nói khi về lại San Jose thì chị làm thủ tục qua Canada nghe? - Chưa biết. Để xem đã... Trời Portland buổi chiều cũng buồn như chiều Saigon. Thì ra ở đâu cũng vậy. Lòng buồn, cảnh có vui đâu bao giờ. Ở Saigon, nàng cũng chỉ có một mình. Và buồn chất ngất. Từ hôm qua Mỹ, gia đình từ Canada gọi sang thường xuyên. Thì chỉ mất năm đồng mà gọi cả giờ. Khi nàng ở VN, gia đình chỉ gọi nếu có việc gấp hay dịp tết. Bây giờ bố muốn nàng qua Canada. Nàng cảm thấy lưỡng lự. Nàng chỉ muốn cha mẹ về VN và nàng đưa hai ông bà về Bắc một chuyến. Những người già cả muốn nhìn lại nơi chôn nhau cắt rún một lần trước khi ra đi vào cõi vĩnh hằng..
*
- Reeng - Hello? - Xin lỗi đây có phải nhà bà Bạch không ạ? - Vâng, ông tìm ai ạ? - Tôi...vô phép hỏi..có cô Phượng Lan đến đó chưa ạ? Nàng bật cười: - Tôi cũng xin..... vô phép báo là cô Phượng Lan đang nghe phone đấy ạ? - Trời? Em đấy ư? sao giọng em nghe khác khi anh gọi về Saigon? - Thì qua đây ăn đồ Mỹ, giọng em có..Mỹ hơn?! - Em khỏe không? - Chưa bao giờ khỏe như thế! - Em có vui không? - Chưa bao giờ vui như thế? Nàng nghe tiếng chàng cười giòn: - Ok, em vui và khỏe là được rồi. Sáng mai 9 giờ anh đến đón em nhé? - Không được đâu. Em phải ở nhà với mợ. Mợ em làm đến nửa đêm mới về. Em phải chơi với mợ cơ. Chiều đỉ - OK, 2 giờ chiều nhé?
*
Nàng nhìn qua cửa kính. Cây lê trước nhà đang trĩu quả. Mợ đã gọi phone khi nàng ở San Jose: - Lan ơi, mợ không hái để nguyên lê cho cháu đây. Hồng cũng đang đẹp quá. Qua mau nhé. Nàng cảm thấy ấm áp ngay từ khi đặt chân đến Mỹ. Có nhiều người đã nói về xã hội Mỹ với tình cảm Mỹ.. Nào là chỉ gặp nhau vào bữa cơm cuối tuần. Nào tất bật tối tăm với công việc.. Nào con cái không như ở VN.. Nhưng khi vừa đến Mỹ nửa đêm thì sáng hôm sau, nàng đã nhận phone tới tấp từ khắp nơi. Người này báo người kia. Và ai cũng gọi chào mừng. Từ những đứa cháu đến em họ rời VN từ bé, nói tiếng Việt còn trọ tre... Nàng cảm thấy rưng rưng. Lạy Chúa, mô Phật, đại gia đình của con đã không bị văn hóa Mỹ làm biến chất nhiều. Vẫn còn đó tình họ hàng thân thiết và sự lễ phép của bọn nhỏ làm nàng kinh ngạc! Như Portland này. Chàng năn nỉ mời nàng qua. Nàng cười khi ở San Jose "Em sẽ gặp anh mà? Không cần anh mua vé cho em đâu?" "Sao vậy?" "Mợ mua. Em có mợ ở đây?" Buổi tối nàng đi ngủ sớm sau khi xem chục trang của cuốn sách Duyên Anh và tôi của Vũ Trung Hiền. Duyên Anh ngày xưa đã làm nàng cũng như các bạn cùng lứa thích thú với những tiểu thuyết học trò giàu tình cảm, đẫm tình người. Nhưng cũng chính Duyên Anh, với những lời đồn đại về những tháng ngày trong trại cải tạo đã làm nàng quay quắt.. Duyên Anh hay nhắc đến tuổi thơ và ngôi trường tỉnh nhỏ. Thì ngôi trường đó là của đại gia đình nàng. Duyên Anh cũng nhắc đến cha nàng, bác nàng. Còn các cô nàng thì: "Duyên Anh hả? hồi đi học, phá như quỷ" Trong giấc ngủ đêm đầu ở Portland, nàng mơ hồ dường như mợ vào phòng và đứng cạnh giường nhìn nàng trong giây lát.. 3. Nàng mở mắt. Dường như hơi nóng. Lạ nhỉ? mọi người nói với nàng Portland lạnh hơn Cali mà? Bước sang phòng mợ. Nàng nhìn bà trong giấc ngủ. Đẹp hơn hồi ở VN. Nàng có hai ông cậu. Qua hai ông, nàng thấy con người ta có số thật. Ông cậu lớn đi lính mà được cả nhà cưng. Bà ngoại cùng mẹ nàng và nàng đi thăm thường xuyên khi "chàng" học ở quân trường..Rồi được về VL làm việc nhàn nhã. Cũng chỉ đi học tập 9 tháng nhờ được gia đình vợ bảo lãnh.. Ông có nhiều tài vặt. Hát hay, đàn giỏi, làm thợ.Nói chung là văn nghệ văn gừng. Thuở bé, ông hay đưa nàng đi theo mỗi khi ông đến nhà mấy cô Trưng Vương. Cô nào cũng đẹp. Nhưng nàng quên tuốt. Chỉ nhớ nàng HT vì HT rất xinh.. Nhưng trong tập nhạc của "chàng", nàng lại đọc thấy một bài, rất dễ thương, đề tặng Lan Phương.. Ông đa tình và vợ rất ghen. Biết tin HT đấy nhưng đố dám đi gặp???.. Ông cậu nhỏ đi lính không ai thăm. Số vất vả hơn ông anh nhiều. Ông đã học tập 7 năm. Trong thời gian ấy, bà mợ đã nuôi ba con với bao cay đắng ngậm ngùi.. Khi vợ chồng mát mặt đôi chút nhờ tài dạy Anh văn của ông thì ông ra đi đột ngột. Ung thư gan. Rất bất ngờ. Đám tang ông, biết bao học trò. Cũng may Mỹ chấp thuận cho vợ con ra đi dù ông đã chết.. Bà mợ mở mắt. Nàng mỉm cười: - Mợ ngủ thêm đỉ - Thôi, đủ rồi. Đêm qua về, vô phòng thấy cháu đang ngủ ngon.. - Sao nóng vậy mợ? - Sợ cháu lạnh, mợ vặn lò sưởi hơi cao. Thế đấy. Bà vẫn nhớ nàng sợ lạnh. Trúc, Bùi Bảo Trúc, đã hỏi nàng một câu khá....vô duyên "sao cô không đi Mỹ hay Canada mà đến Úc? đến chi cái xứ ngược đời ấy?" Ngược đời?? Với riêng nàng, Úc là một đất nước xinh đẹp, hiền hòa, ấm áp như VN mà Trúc kêu xứ ngược đời?? Nàng chỉ thích Mỹ và Úc. Nàng không thích Canada nhất là Montreal vì sợ lạnh. Cái buốt giá của Montreal mà mọi người kể lại làm nàng sợ. Và hồ sơ do bà chị bảo lãnh đi Canada, nàng xếp xó! Mợ nàng biết cô cháu sợ lạnh, đã cho nàng nếm mùi nóng của lò sưởi Portland! nàng bật cười khi nghĩ như vậy! Hai mợ cháu hàn huyên cả buổi sáng. - Ngày mai mợ sẽ xin nghỉ đưa cháu đi Seattle. Chiều nay cháu làm gì? - Có anh bạn cũng ở đây. Anh ấy hứa đến đưa cháu đi chơi - Vậy thì tốt.
*
Buổi chiều. Tiếng chuông nhẹ nhàng. Nàng mở cửa. Chàng đứng đó. Dáng vẫn cao lớn như thươ? nào. Nhưng nét mặt đượm phong trần. Chút chân chim cuối mày. Ô, thì thời gian! Chàng dang tay như muốn ôm nhưng nàng né và đưa bàn tay rái: - Em chưa tây đến độ gặp ông nào cũng sẵn sàng cho ôm đâu?!!! Chàng phá ra cười, nắm tay nàng siết chặt: - Em vẫn như ngày nào? thế kỷ 20 mà cứ vẫn khuê môn bất xuất sao? duy nhất trên đời em là người phụ nữ bắt tay đàn ông bằng tay trái? Nàng cười khì: - Hổng dám đâu. Chỉ với ai đặc biệt thôi chớ bộ! Chàng gật gù: - Hân hạnh. Anh là người đặc biệt với em từ khi nào vậy? - T+` khi anh hụt xuất du học và ra chiến trường! Chàng nhún vai. Hai người lên xe. Chàng nhắc: - Em cài dây vào! - Biết rồi. Ở San Jose, em bị mọi người nhắc mãi. Thuộc bài rồi. - Có vẻ cay cú nhỉ? Nàng dài môi: - Phải, mọi người cứ làm như tôi từ một xứ mọi rợ đến! Chàng quay sang nhìn nàng: - Hừm! Em điệu còn hơn Việt kiều. Việt Kiều ăn mặc giản dị lắm. Ai nói em mọi rợ? - Thì em là cô ký điệu từ lâu rồi chứ bộ. Nhưng lạ cái đi đâu, em cũng nghe mọi người nói "Ở VN qua mà sao lanh vậy?" "Ở VN qua mà sao trắng vậy?" "Ở VN qua mà sao điệu vậy?"!!! - Tại mấy vị đó đã lâu không về VN nên tưởng tình hình như thời 80! - Thế còn anh? - Anh cũng vậy. Nhưng anh không hỏi em những câu lẩm cẩm ấy vì anh biết em lanh quá trời mà! - Xạo ke. Thế ngày xưa ai luôn mồm chê em ngây thơ ấy nhỉ? - Thì ngày xưa thôi. Khi còn là sinh viên, em ngây thơ bỏ bu! Nàng giơ tay dọa: - Này, cấm nói bậy nhẻ - Hì! Xin lỗi. Tính anh hay nói bậy lắm. Em phải tập cho quen? - Không, anh phải tập bớt bậy khi nói chuyện với em chứ không phải ngược lại! Chàng thở dài: - TK, vì em là người khách phương xa nên anh chiều. Chứ không thì đừng hòng! Nàng nhăn mặt. Chàng vẫn ngang tàng như xưa. Hồi ấy, ăn nói bạt mạng, coi trời bằng vung, là chàng!
4.
Vườn hồng. Chàng tỏ vẻ tiếc "Em qua muộn. Tháng trước có lễ hội hoa hồng. Đủ các loại hồng, đẹp lắm. Giờ thì tả tơi". Nhưng không sao. Nàng mê đắm nhìn thảm cỏ xanh theo triền đồi thoai thoải và tỉa cắt công phu. Nàng ngẩn ngơ nhìn cảnh đẹp như tranh vẽ. Ôi, những chiếc lá maple vàng và đỏ. Đẹp kinh khủng. Nàng loanh quanh chạy hết thảm lá này đến thảm lá kia - Anh ơi, sáng nay mợ kể cho em nghe, khi mới sang đây, mợ giống con khùng. Đi ngoài đường thấy lá vàng bay, mợ cứ đuổi theo rồi vốc cả nắm tung lên! Bây giờ thì.. - Thì em cũng vậy! Nàng nhoẻn cười. Ừ, nàng cũng đang chạy đuổi với lá. Nhớ ngày xưa còn bé, nàng cũng chạy đuổi với những chiếc lá của cây sao mỗi mùa gió chướng.. Em không nghe mùa thụ Lá thu rơi xào xạc. Con nai vàng ngơ ngác. Đạp trên lá vàng khô Mấy câu thơ bây giờ thật thấm thía. - Ở San Jose sao không có cảnh này hả anh? - Oregon ví như Đà Lạt. Cali như Saigon. Khí hậu Oregon lạnh hơn nên em không thấy thông bát ngàn đó sao? và con gái Oregon cũng má hồng hơn? - Ừ nhỉ. Em thấy da mặt mợ đẹp ghê đi. Em còn thua. - Nhưng em..hơn mấy bà chị họ ở Los nhé. Mấy bà ấy đen hơn em nữa kìa? Chàng mỉm cười. Ôi đàn bà con gái! Lúc nào cũng chăm chắm vào cái nhan sắc! Ừ mà chàng cũng thích con gái đẹp. - Em còn nhớ mình quen nhau khi nào không? - Nhiều người làm quen quá nên em không thèm nhớ? - Ha ha, dóc vừa thôi cô ơi. Người yêu của tôi đẹp gấp mười lần cô! - Chật chật, với cái nhan sắc n mà anh còn không cua được em, nói chi nếu em có n+10! - Ái chà, lém nhỉ? Chàng thú vị. Mấy cô gái Bắc chanh chua làm chàng thấy vui vui. Nàng nũng nịu: - Thế anh kể lại đỉ vì sao anh muốn làm quen em? Chàng cười lớn: - Tại em con nít quá. Lúc bấy giờ anh quen mấy cô người lớn và móng vuốt kinh lắm. Em thì ngây thơ và ngốc nghếch. Xem nào, ừ hôm ấy Sơn nhờ anh dạy giùm vì hắn kẹt cái gì đó. Anh văn thì sure, anh dạy cái một. Chứ bắt dậy công dân thì..anh sẽ vô ca Khoẻ vì nước kiến thiết quốc gia, đoàn thanh niên ta góp tài bạ! Nàng phì cười. Chàng vẫn hay tếu, y như ngày xưa! - Ngồi trong phòng Ban giảng huấn, bên dãy nam giáo sư, ngó sang nữ, anh thấy em ngộ quá đi? Cô giáo gì mà con nít quá. Áo hồng, giày hồng và chơi luôn hai cái đuôi tóc thắt nơ hồng! À mà cái trường này kỳ nhỉ? tự nhiên cho nam nữ giáo sư ngồi riêng? - Thì chắc Cha đề phòng mấy ông..lộn xộn như anh qua cua mấy cô hiền như ma soeur như em vậy đó? - Haha, anh thì ngược lại! Về nhà, anh hỏi Sơn về em. Anh nói cô nhỏ đó dạy Việt văn lớp 6 phải không? hắn cười hăng hắc. - Cha nội, lầm to. Cô nhỏ đó dạy Hóa lớp 10 đấy? - Lớp 10? Ai cho cô nhỏ đó dạy?- Cha! Nè, cô nhỏ đó là nữ giáo sư duy nhất ở đấy dạy lớp 10 nghe. Chỉ có 2 bà nữa thôi nhưng đó là bà, còn đây là Cô! - Why? cô nhỏ đó có bằng cấp gì mà Cha xếp lớp 10? đa số tớ thấy các cô nhỏ đang là sinh viên và dạy lớp 6, 7 là cùng? - Cô nhỏ nầy mới ra trường, cử nhân rồi đó cha - Ủa, cử nhân mà nhỏ híu vậy? còn thắt đuôi nữa chứ? Nàng mỉm cười. Dĩ vãng trôi về. Ừ, ngày đó ông Cha kêu trời với bà chị "Cô nói cô Lan tí nhé. Cô giáo mà thắt đuôi làm sao dạy học trò?" Thế là những lần sau, nàng buộc tóc ra sau, không còn đuôi gà nhỏng nhảnh nữa. - Nhưng sao mấy lần sau em thấy anh vẫn dạy mà? - Haha, vậy mới nói em ngây thơ! Anh ra lệnh cho Sơn nhường lớp đó cho anh khoảng một tháng. Mà ông Cha chơi trò gian ác thiệt! bắt nam nữ ngồi riêng nên anh khó làm quen em quá. Lúc nào cũng thấy em tíu tít với mấy bà, muốn nhào vô thật khó. Nhưng một lần khi em vô toilette thì..anh đành xông đến vậy? Nàng lại phá ra cười. Úi chao, bọn nhỏ bây giờ không biết người lớn ngày xưa tán nhau ra sao nhỉ? chúng có nghĩ được là mấy chàng muốn tấn công các nàng thì trầy vi tróc vẩy chứ đâu úm ba la như chúng bây giờ??? - Anh canh khi em vừa bước ra và đứng rửa tay thì anh vờ vịt "Dường như cô học KH?" thế là em dính chấu anh ngay! Nàng đỏ mặt. Ừ thì ngây thơ. Anh chàng vờ vịt mà nàng tưởng thật. Nhưng phải nói, ngày ấy, chàng -với dáng dấp cao lớn, đôi lông mày rậm và đôi mắt to đã chinh phục nàng phần nào..Nàng vẫn thích con trai cao lớn. Để đi bên cạnh, nàng có cảm giác được che chở. - Mà anh cũng bạo quá đỉ mới làm quen hôm trước, hôm sau đã đến ngay KH rồi? - Anh ngán gì ai nào? Chàng đã hỏi nàng đang chính thức làm ở đâu ngoài những giờ dạy tư. Cô nhỏ ngây thơ khai thiệt. Hôm sau, xế chiều, lúc nàng đang chuẩn bị ra về thì chàng đến. Nàng ngẩn người. Khi đi dạy, chàng phục sức đàng hoàng. Còn lúc này, trông chàng trẻ trung và đẹp trai quá cỡ. Riêng chàng thì nheo mắt: - Trong cô mặc blouse, hiền từ như ma soeur! Nàng hơi luống cuống. Nàng bảo để nàng đi thay áo. Chàng nói khỏi. Và mời nàng ra quán nước đầu bãi giữ xe. Nàng từng nghe có quán gió ở trong trường nhưng chắc khi nàng vào học, quán gió đã theo gió ngàn bay. Nàng thích quán nước này, có thể ngắm con đường Cộng Hòa thênh thang, ngắm cả các giai nhân từ trường ra về.. - Lúc anh đến làm quen, em có nghĩ là anh có bồ rồi không? - Có chứ? Anh lớn quá mà? Anh hơn em bảy tuổi, anh đẹp trai thế kia nữa? - Thế em có thấy xao xuyến không??!!! Nàng phì cười: - Cũng có chút xíu. Vì em mê người đẹp mà? Nhưng em sợ anh nữa! - Anh biết. Thấy em nói chuyện với hàng phòng thủ dầy đặc. Anh nói cái gì, cũng cười cười và tặng hai chữ xạo ke! Người đàn ông quá từng trải so với nàng. Bị giam trong bốn bức tường của gia đình, nàng tự biết mình ngốc nghếch! nếu không khéo sẽ bị dụ dỗ, tàn một đời huê! Cách nói chuyện quá khôn ngoan, khéo léo của chàng làm nàng sợ. Con cừu non run rẩy trước con sói già! - Nhưng vì sao có bồ rồi mà anh cứ thích tán người khác vậy? - Để sơ cua! Nàng mỉm cười. Lại ngang rồi. - Đi đâu bây giờ em? - Ở anh là hướng dẫn mà? - Ok nhưng muốn hỏi ý thích của em. Em muốn vào trường đại học hay đến chùa Tầu? - Cả hai cở - OK.
*
Lại những thảm lá vàng trong sân trường đại học. Portland đang vào thu. Trường có vẻ hơi cũ nhưng khuôn viên làm nàng nhớ đến trường xưa - KH bây giờ ra sao em? - Lâu lắm em không vào. Nhưng bây giờ họ xây cất nhiều quá. Những dãy lầu chen chúc nhau, sân trường hẹp nhiều lắm.. - Anh khoái cái phòng em ngày xưa. Lúc em ngồi trong đó với áo blouse trắng, thấy em ngoan hiền dễ sợ! Bây giờ ra sao? - Xây to đùng rồi. Rời trường đại học, chàng đưa nàng đến chùa Tầu. Phong cảnh dễ thương. Nghe nói họ đã đưa một số vật liệu và cả nghệ nhân từ Tàu qua. Những phiến đá lát theo một cấu trúc đặc biệt. - Uống cà phê nhé? Có quán này hay lắm? - Thôi về nhà đi anh? em sẽ pha cho anh? - Có phải nhà em đâu mà có cà phê? Em mới đến hôm qua mà? Nàng phá ra cười: - Anh biết không, trong hành trang....mang sang Mỹ của em có..cà phê và cả phin! Nhưng anh phải gọi xem Tú còn ở nhà không? Chứ em đâu có chìa khóa? Tú còn nhà. Nhưng cậu nhỏ bàn giao ngay tức khắc nhà cho bà chị rồi biến. Nàng pha cà phê. Chàng theo sau im lặng nhìn. Tóc nàng vẫn đen. Nhưng quả là thời gian không từ ai bao giờ. Cô nhỏ ngày xưa với hai đuôi gà thắt nơ hồng líu lo trong Phòng Ban giảng huấn giờ đã là thiếu phu... - Mình ngồi đây nghe anh? Em thích ngồi bàn, không thích salon đâu - Ừ Trời đã về chiều. Nàng vào phòng và lấy ra ngọn nến. Vốn sợ ma, nàng đã hỏi mấy cậu em họ nến ở đâu ngay từ hôm quạ. Nàng tắt đèn và đặt ngọn nến giữa bàn. Ánh nến lung linh huyền ảo. - Em làm anh đau tim đấy? Nàng cười giòn: - Mới có màn một thôi. Còn màn hai nữa cở Chàng mỉm cười. "Cô nhỏ" tiến bộ gớm? Có vẻ không còn sợ nữa? Ngày xưa, nàng sợ chàng như sợ cọp. Sợ cái ăn nói bạt mạng của chàng, cái ngang tàng bướng bỉnh của chàng, cái từng trải của chàng.. Cà phê đã chẩy được phân nửa. Nàng bỏ phin, chế thêm nước sôi và bỏ hai thìa đường. Nàng đưa chàng với ánh mắt dịu dàng nhất trên đời: - Anh uống đỉ em còn nhớ anh hai thìa mà? Ly cà phê cuối cùng đem từ VN qua đấy nhé? Chàng cầm tách cà phê và cầm cả bàn tay nàng trong tay mình: - Sao lại cuối cùng? - Thì em chỉ mang có bấy nhiêu. Em đã qua Mỹ hơn tháng rồi mà anh? ngày mai em sẽ phải tập uống cà phê Mỹ thôi? - Ừ, thế ra hôm nay anh chia sẻ với em chút cà phê VN cuối cùng trên đất Mỹ! Nàng rút bàn tay về và chế sữa vào tách mình.
*
Trời hôm ấy mười ba. Chàng còn nhớ rõ. Nàng đang buồn. Buồn như kiến cắn. Khi chàng đến tìm, nàng bảo vậy. Nàng có lối ví von lạ đời. Buồn như kiến cắn! Hỏi sao? Nàng nức nở: - Em ghét Thầy Sơn. Không biết Thầy nghe đứa nào đó nói mà vô lớp, thầy la em! - Chuyện gì? - Thầy không nói đích danh em nhưng thầy nói cô nào đó viết bài trên Chính Luận phê bình chứng chi? COSA của thầy! - Em có viết không? - Không. Anh biết đó, hồi sinh viên, em chỉ phê bình chứng chi? Sinh Hóa vì ông thầy cưng đám dược khoa qua học ké. Còn VLĐC thì em ca hết lời vì em quý Thầy H. Chứ em đâu có viết gì đụng đến COSA??? - Không viết thì hơi đâu em buồn? Ngày mai anh sẽ đến gặp thầy Sơn, nói cho biết Thầy đã la oan em. Nàng hoảng hốt vì biết anh chàng ngang ngạnh dám làm lắm: - Đừng, để tự em giải quyết. Anh học Bách Khoa, có phải học trò thầy đâu? Có lẽ vì buồn như kiến cắn mà "cô nhỏ" đã đồng ý đi uống cà phê với chàng. Hôm ấy cũng như đêm nay. Đối diện và một ngọn nến lung linh. Nhưng người chăm sóc là chàng. Chàng đã pha cà phê với bốn thìa đuờng cho nàng! Nỗi buồn kiến cắn của nàng và đêm cà phê huyền ảo đã làm chàng bỗng dịu dàng quá đỗi. Chàng đã hát cho nàng nghe Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em Anh đi tìm mùa xuân trên đời Mùa đông chết đi rồi mùa xuân Mắt em đẹp trời sao Cho mình thương nhớ nhau.. Chàng đã cầm tay và cô nhỏ lần đầu không rụt lại: - Em hát đỉ - Em hát dở lắm? - Giọng em trong lắm mà? - Ừ thì em từng làm speaker cho trường nhưng lại hát dở. Em muốn kiện thượng đế về điều này! Chàng bật cười. Thuở ấy chàng đang lãng đãng trong tình yêu. Với một cô Văn khoa. Với nàng, chỉ là thích thú khi thấy ai kia ngồ ngộ.
*
- Sao anh bo? Fountain Valley? - Xô bồ quá. Anh thích cái yên tĩnh của Portland. Anh thích thông mà? Kiếp sau xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữa trời mà reo? Nàng mỉm cười. Chàng xoay xoay tách cà phê: - Màn hai là gì em? Nàng chống hai tay lên cằm. Đôi mắt nhìn chàng. Chàng nhìn vào đôi mắt nâu. Cuối cùng chàng chớp mắt thở dài: - Anh thua rồi! Đàn ông qua Mỹ mất giá quá? Nhớ ngày xưa thi nhìn thì em thua anh, bây giờ thì em thắng anh? Nàng đứng dậy, vòng qua sau lưng ghế chàng. Chàng ngước mắt nhìn lên, ánh mắt như dò hỏi: Em làm gì đấy? Nàng mỉm cười. Lùa tay tung tóc Chàng. Nàng áp má vào mái tóc cứng: - Anh còn nhớ không? Chàng rùng mình. Một luồng cảm giác chạy dài theo sống lưng.
*
Đêm mênh mông. Ngõ nhà nàng tối mịt mù. Tre xào xạc thê lương - Đi với anh đỉ - Đi ư? không, em còn con. - Anh van em mà? - Không anh. Chàng đã ôm nàng vào vòng tay rắn chắc của mình rồi lại buông ra và không biết vì sao lại dụi mái tóc vào má nàng: - Vậy thôi, anh đi. Cuộc tình với nàng Văn khoa đã chấm dứt sau buổi tối cà phê huyền ảo với nàng chừng ba tháng. Từ lúc nào, chàng thấy thương cô nhỏ ngây thở không biết nữa. Chỉ biết chàng đã cố chinh phục mà không xong. "Cô nhỏ " sợ người đàn ông từng trải, sành sỏi và ngang tàng. Nàng không dám đánh cược cuộc đời mình vào chàng. Tháng tư đen tối. Chàng đang ở xa. Khi về thì hay tin nàng đã lấy chồng vội vã, như một số bạn bè của nàng... Đám cưới của con gái Saigon, khi hết chiến tranh..là đám cưới không kèn không trống, là đám cưới như cướp giật, giống như là đám cưới chạy tang! Khi nàng ôm con về ngoại, chàng biết. Em đã không hạnh phúc, cô nhỏ ngây thơ của anh. Chàng đã van vỉ nàng ra đi cùng. Nàng từ chối. Đêm ấy, gần mười một giờ đêm. Chàng như kẻ điên, lại đến và van vỉ.
*
- Phải chi đêm ấy em đi với anh? Nàng quay về chỗ mình: - Phải chỉ cuộc đời có ngàn cái phải chỉ
5.
- Reeeng! Nàng nhìn vào cửa sổ điện thoại. Số của chàng. Nàng nghịch ngợm: - Ai kiu tui đó???!! Tiếng chàng cười giòn: - Tui kiu em đó? Nàng vui vẻ: - Hôm nay anh nghỉ ư? - Ừ, vì em mà. Hôm qua đi Seattle vui không? - Không đi được. Giữa đường mưa lớn quá. Mưa tầm tã y như VN. Lại quay về. Buổi chiều đi shopping. Thú vị hơn Cali. Vì sao anh biết không? - Vì sao? - Portland không có thuế. Em mua một lô đồ và sẽ đem về San Jose nhập với đồ ở đó gửi cho bé và em gái. - Em nói gì anh không hiểu? tại sao phải gửi đồ? Nàng cười lớn: - Em từ bi mà li?. Hồi ở San Jose, em đi chợ trời. Đồ rẻ ghê nhe. Có 5 đồng con búp bê xinh lắm. Hộp nước hoa mấy lọ chỉ 7 đồng. Phấn son chỉ 4 hay 5 đồng, còn sơn móng tay thì một đồng...Áo thun thì cứ 10 đồng 4 cái. Em lụm môt mớ. Lên đây em lụm thêm. Em sẽ gửi quần áo Mỹ cho con gái ở Úc và cho mấy mẹ con cô em gái ở Montreal. Hiểu chưa? - Hiểu? Anh không nghĩ là người Việt Nam lại hào phóng mua đồ Mỹ cho người ở Canada?! Mà em nhanh lắm đấy? sang Mỹ mới một tháng mà đã lê la chợ trời có vẻ thạo nhỉ? thôi em chơi với mợ đi. Khoảng hai giờ hơn, mợ đi làm, anh sẽ đón em? - Ok Nàng gác máy. Bà mợ đang làm bếp mỉm cười: - Ai mà vui vẻ thế? Anh bạn mà cháu nói à? - Vâng - Có là đuôi không? - Đương nhiên rồi mợ ơi? Không phải đuôi thì làm gì được như thế? Bà mợ chỉ hơn nàng sáu tuổi. Nhưng tính tình dễ thương và trẻ trung. Hồi sinh viên, từ Kontum bà gửi cho nàng xấp vải may đầm và nàng nhớ mãi.. Khi cậu đi học tập, nàng đã đến thường xuyên và chia sẻ vui buồn với gia đình bà. Nàng đã san từng chút, từng chút, cái gọi là nhu yếu phẩm mà nàng lãnh ở trường cho gia đinh bà. Nay một chút đường, một tí bột ngọt, một xấp vải đen.. Miếng khi đói... Ba đứa con bà yêu quý nàng hết mực. Bố vắng nhà, chỉ có chi. Lan mua bánh trung thu, sắm quần áo mới cho chúng vào dịp tết. Nàng sẵn sàng chi cho hết đồng tiền đang có, không suy tính là phải để dành phòng khi con đau ốm! Nàng bật cười khi nghĩ trong gia đình nàng, nàng là người duy nhất luôn được nhận quà từ chị em họ hàng. Cô em họ gửi thùng quà nhỏ thì phân nửa biếu hai bác và các anh chị kia, phân nửa là phần riêng tặng chi. Lan.. Bà chị họ khác gửi thùng quần áo và sữa bằng tàu thủy (vì không có tiền gửi phi cơ) cho nàng năm 84.. Bà cô mới sang Mỹ năm 90 cũng chỉ gửi cho riêng nàng, không cho những đứa cháu khác.. Bà cô út thì chi toàn bộ chi phí cho nàng du lịch Mỹ.. Nàng dành làm bếp. Nàng chê: - Nếu cháu là mợ, cháu sẽ đặt tất cả gia vị cần thiết vào một rổ. Nêm rất nhanh và rinh đi đâu cũng được. Mợ giống bà cô cháu, cúi xuống lấy nước mắm, ngước lên lấy tí muối, quay trái lấy tỏi..! Dở ẹt! Nàng nháy mắt. Bà mợ mỉm cười. Bà biết. Cô cháu lúc nào cũng thích sắp đặt mọi thứ theo khoa học. Nhưng có lẽ vì thế nàng làm việc cực nhanh. -Thế cháu sắp xếp cuộc đời mình theo khoa học đi? Mợ thấy nó rối beng lắm đấy?! Nàng quay lại mợ cười khì: - Có lý? ngày mai cháu đăng báo nhé? tìm một ông chồng càng già và càng nan y càng tốt? - Cháu phải thêm vào: nếu có tài sản càng nhiều càng tốt!!! Hai mợ cháu phá ra cười vui vẻ. Buổi trưa chỉ hai người phụ nữ ngồi ăn với nhau. Một người rất yêu chồng, rất hạnh phúc mà đường tơ đứt đoạn vì mệnh số. Một người không yêu chồng, chẳng qua sợ nhà nước gả cho một anh thương binh và tự tay cắt đường tợ. Buổi chiều. Nàng mở cửa ra sân. Trời lạnh quá. Lê rụng đầy sân. Thích nhìn cây trái chứ nàng cũng chẳng buồn hái ăn. Nàng chờ về San Jose để ăn hồng giòn. Tháng sau, hồng sẽ chín. Cô nói vậy. Nàng mở computer. Có lẽ phải mười lăm phút nữa chàng mới đến. Nàng ngớ người khi nhìn thấy card của con gái. Click. Bông hoa hồng tuyệt đẹp và tiếng nhạc reo vui. Mải mê chơi, nàng quên mất hôm nay sinh nhật mình. Nhắm mắt, nàng hình dung lại con. Những ngày thơ ấu, con bé xúng xính áo đầm lên hát văn nghệ. Những ngày khôn lớn, khôn lớn nhưng cũng chỉ tuổi trăng rằm, con gái trổ mã, xinh đẹp khiến nàng phải lao đao vất vả đối phó với những tên "masculin" thấy ghét! Chuông cửa reo. Nàng tắt computer. Vừa cài dây an toàn xong, nàng hoảng hốt: - Chết, em quên chưa bấm chốt cửa bên trong. Khi trở lại, nàng cười: - Hôm qua mợ bị phạt 100 US vì em và vì cả thằng cha thấy ghét kia nữa? - ?? - Em hay ra sân ngắm hoa. Khi vào, em không nhớ chốt cửa. 10 giờ thì em, mợ và Tú lên xe đi Seattle. Giữa đường mưa to nên về. Vào nhà thì té ra lão H, em rể mợ bấm chuông xong là mở tung cửa. Chuông reo inh ỏi. Lão co giò đi mất. Cảnh sát đến. Và đây là lần thứ ba, nhà mợ bị tình trạng này nên nó phạt 100 chơi. Còn hăm he nếu tiếp tục, nó cúp không bảo vệ nữa! Chàng cười giòn: - Cho em biết thế nào là kỷ luật ở Mỹ nhé Nàng bĩu môi. Chàng nhìn nàng trìu mến: - Lên núi tuyết nhé? - OK Thế là nhỏ em họ không cần phải đưa nàng đến Núi tuyết. - Kể cho anh nghe đi? Sau khi anh đi, em làm gì? - Vẫn ở trường. - Chắc cuộc sống vất vả lắm? Nàng im lặng. Quãng đời ấy, nàng không muốn nhớ. Những ngày nuôi con một mình với nước mắt hàng đêm... Những ngày bụng trống và đạp xe hàng chục cây số. Những ngày đành đoạn bán từng chiếc áo dài để mua thịt cho con. Những chiếc áo dài xinh đẹp đã làm nàng nổi tiếng ở bất kỳ trường tư nào. Có ba chiếc áo dài mà nàng ngậm ngùi mãi khi bán. Chiếc áo hồng mà ngày xưa lần đầu chàng gặp. Hồi trẻ, nàng hợp với mầu hồng. Khi mặc áo hồng, khuôn mặt nàng sáng và rực rỡ hẳn lên. Chiếc áo đen, ôi mầu đen là mầu nàng ghét nhất nhưng áo đen đã đem đến cho nàng vẻ quyến rũ lạ kỳ. Học trò các lớp nhỏ đã làm thành đuôi dài theo tận Phòng Giáo sư... Chiếc áo xanh hotess de l'air. Nàng đứng ven đường. Chàng phi công hào hoa đi ngang và ngẩn người trước tà áo xanh. Sau này chàng nói "anh ngỡ em là hotess de l'air nhưng nhìn lại thì thiếu con rồng vàng. Nhưng hôm ấy em đẹp quá. Và anh đã đi theo cho đến tận KH, bỏ cả buổi hẹn với bạn ...Rồi những lá thư kể chuyện đời phi công, những món quà xinh xắn từ những vùng chàng đến.. Và rồi tin chàng tử trận.. Chàng, một cái đuôi ngày xưa của nàng.. - Em kể anh nghe cuộc đời đi bán xôi của em nhé? Chàng quay sang nhìn nàng trìu mến. Con đường lên Núi tuyết còn dài. Có lẽ đủ để nàng kể...Những ngày gian truân.. - Hè 79, em ra quán phụ mẹ bán cà phê. Quán nhỏ mà vui. Đủ loại người. Xích lô, sinh viên, công nhân viên và cả bác sĩ.. Nhưng họ rất tôn trọng mẹ vì biết bà giáo phải ra bán cà phê do thời cuộc. Năm ấy, Nguyễn Chánh Tín đang đi bỏ mối rau cho các chợ! Em nẩy ra ý định bán xôi. Thế là em dậy sớm, đồ xôi và ngồi bán ở ngay quán cà phê của mẹ. Sinh viên có nhiều đứa ở cùng hẻm, đi ngang chào cô lễ phép và hay mua xôi giùm cộ. - Tưởng tượng em bán xôi, anh thấy ngộ nghĩnh thật? Lúc đó em mặc gì? - Anh này? đang thời kỳ đói thấy mồ, quần áo mặc toàn đồ cũ có từ trước 75. Bà chị em là dược sĩ, sau 75 không cho thuê bằng được nữa thì bả dạy cấp 3. Tiền lương đói quá, buổi sáng bả từ quận 1 đạp xe xuống Gia Định phụ mẹ bán cà phê. Sau này bả bán sữa đậu nành. Tiền lời sữa coi như của bả, của xôi của em. Tuy vậy, mẹ vẫn bù đắp cho bả và thỉnh thoảng cho em vì lúc đó bả có 3 con, em chỉ mới một. - Thế mẹ bán cà phê khá lắm sao? - Khá. Thế mới buồn cười. Đủ nuôi ba đứa nhóc và còn dư để bù cho em và chị em vì tụi em là giáo viên, nghèo rớt mồng tơi! - Em bán xôi gì? - Xôi đậu xanh, đậu phọng! - Anh thích ăn xôi xéo cơ? Có lần đến nhà, em cho anh ăn xôi xéo anh còn nhớ mãi? Nàng mỉm cười. Ừ, nàng cũng thích xôi xéo. Ngày xưa, một lần chàng đến. Nàng đem xôi ra mời. -Xôi mà không có chè hả em - không, thiếu chè thì xôi sẽ đậm đà hơn - Nàng đã "ba trợn " như vậy. Chàng ăn ngon lành. Anh ơi, vậy mà những tháng ngày cô giảng viên đại học ngồi lề đường bán xôi thì anh đang ở đâu? - Thương em quá. Bán xôi thì phải dậy sớm lắm? - Ừ thì dậy từ 3g30 sáng. 5 giờ thì ra quán cà phê cùng với me... - Em bán lời khá không? Nàng phá ra cười: - Em có buôn bán bao giờ mà biết? Ban đầu còn lời về sau chẳng lời gì cả? - Sao vậy? - Thì người nhà ăn không trả tiền nhé. Khi bán cho sinh viên học trò em hay khách quen thì em..cứ thêm một tí một tí. Mỗi gói xôi thêm một tí..là cuối cùng dẹp tiệm! Chàng dịu dàng cầm bàn tay nàng đưa lên môi: - Cho anh hôn bàn tay phụ nữ Việt đảm đang của em. Tội nghiệp em tôi. Nàng im lặng. Lao động là vinh quang. Người ta ra sức hô khẩu hiệu. Nàng bật cười khi nhớ một chuyện cũ. - Em cười gì vậy? - Sau 75, tụi em phải lao động. Không biết ai có sáng kiến là khoa mình.. trồng dưa hấu! Thế là hàng tuần, tụi em, lũ giảng viên lẫn công nhân viên đều luân phiên theo xe trường xuống Thủ Đức để tưới dưa. Và kết cuộc là...khi thu hoạch, dưa chỉ bằng nắm tay! Cả lũ trong nam bò ra cười quá xá. Tên kia mỉa mai "Trời sinh ra ai có công việc nấy. Bắt ong thợ đẻ con sao được?? Cho nông dân giải bài toán thì sao rả cho lũ giảng viên đại học đi trồng dưa thì lỗ to!" Mà lỗ thiệt vì cả khoa phải đóng góp tiền mua giống, phân chứ bộ!! - Nhưng em lao động bán xôi mà đừng thêm một tí thì đâu có lỗ?? Nàng phì cười. Chàng vẫn tếu như như ngày cũ. - Thế em bán được bao lâu? - Một tháng. Hết hè thì nghỉ luôn
6.
Núi tuyết Nàng đứng sững nhìn cảnh vật chung quanh. Nắng vẫn chan hòa nhưng tuyết mênh mông trắng xóa. Tuyết mà từ bé nàng chỉ được nhìn qua những tấm card hay phim ảnh, bây giờ đang hiện hữu trước mặt nàng. Căn nhà cổ phủ tuyết trên mái. Cây phủ tuyết trắng xóa. Nàng chạy đến và vốc một nắm tuyết trên tay. Vo tròn tuyết nàng ném vào chàng. - Em có lạnh không? - Không? chẳng lạnh gì cả? Mà em tưởng có tuyết thì trời không nắng? ai dè có nắng và vẫn có tuyết? Chàng đưa nàng vào căn nhà gỗ cổ. Đến khu lưu niệm, nàng mua tấm card có in hình núi tuyết. - Được nhìn thấy tuyết là em thích rồi? - Nhưng em chưa nhìn thấy tuyết rơi? Khi tuyết rơi mới đẹp em ơi. Chàng và nàng lại quay đầu xe ra về. - Em dự định ở đây bao lâu? - Chưa chi em thấy nhớ nhà rồi? Nhưng em còn phải sang Colorado. Anh chị họ ở đó nằng nặc bắt em qua. Anh chị mua vé. Mà nhỏ em vừa nói bố biểu em sang Canada kìa? - Em đến Los chưa? - Đương nhiên phải đến vì họ hàng em ở Los đông lắm. - Em đi bằng gì? Nàng phá ra cười vui vẻ: - Xe đò. Em không ngờ ở Mỹ có xe đò nhe. Ngồi trên xe, toàn dân Việt làm em tưởng như mình ngồi xe đò về lục tỉnh. Giá đi về là 70 UD - Cái gì làm em ấn tượng nhất khi đến Mỹ? Nàng mím môi suy nghĩ. Rồi nhoẻn cười: - Ở San Jose, em chẳng thấy cái gì làm em hãi cả? (hãi!) Nhưng khi đến Los, ông anh chở em đi vòng vòng và bảo "cho cô xem hệ thống free way lớn nhất Los và cũng là lớn nhất Mỹ." Em thấy ấn tượng thiệt. Nhìn hệ thống free way ở Los thật kinh khủng. Sau nữa là Tượng Nữ Thần Tự Dọ Em cũng thích Blue sky ở Las Vegas. - Ô em có đi à? thế em thua hay thắng? - Thắng. Bà chị cho 5 xu. Em chơi gà mờ lắm nhưng số đỏ nên ăn được 50 US. Ăn xong, em nghỉ chơi và đi shopping mua đồ. Ở đây cũng rẻ nữa - Thế siêu thị ở Mỹ? - Tất nhiên là to rồi. Nhưng Pháp cũng đầu tư Siêu thị Cora ở Ngã ba Vũng Tầu theo đúng chuẩn quốc tế nên em cũng không ngỡ ngàng lắm khi vô siêu thị Mỹ. Em thích sự bày trí của hệ thống siêu thị Mỹ. Cách trang trí cũng như bố trí gian hàng ở khắp nơi đều giống nhau. Nên đi sang tiểu bang khác vẫn dễ dàng mua sắm. Em cũng thích quầy rửa hình của siêu thị Mỹ. VN chưa có. Đến tiệm rửa hình phải chờ và nói yêu cầu. Ở siêu thị Mỹ, cứ ghi hết yêu cầu riêng vô bao rồi hôm sau đến tự lấy. Em thích những cái gì sắp xếp theo khoa học Chàng im lặng. Cô đơn đã khiến chàng tấp đại vào một bến bờ hoang dại. Người vợ có đẹp nhưng chỉ thích chưng diện, khiêu vũ. Tất nhiên với týp phụ nữ này thì việc nhà rối tung và làm việc thì lôi thôi. Chàng nhớ ngày xưa khi đến phòng nàng ở KH, xem những gì nàng làm...Nàng hay ríu rít: - Em quản lý theo mầu. Cứ nhìn mầu là lấy rất nhanh. - Em phải soạn bài theo nhiều sách chứ. Nhưng em tóm tắt vào tờ giấy nhỏ. Đi dạy, em chỉ cầm theo tờ đó còn thì em thuộc hết cả rồi. Cuối giờ, em tóm lại bài. Đầu giờ, em ôn sơ bài kỳ trước. Do vậy, học trò em mau thuộc bài lắm..Em thích lối làm việc khoa học của Tây phương. Em ghét cái kiểu lề mề, luộm thuộm của dân VN.. Nàng tần ngần: - Sao anh im vậy? - Chẳng có gì? Anh nhớ lại chị ấy. Rất đẹp. Hát hay. - Nhưng không khoa học như em! Nàng phá ra cười: - Anh so sánh kiểu gì vậy? Chàng nheo mắt: - Anh không nịnh em đâu. Nhưng đúng là khi anh về nhà thì.. đó không phải là mái ấm gia đình mà là cái chuồng heo. Mà người thì không thể ở .. Nên... - Anh bị đá đít chứ gì? - Không. Hai người cùng đá nhau! Nàng tò mò: - Rồi sau đó? - Anh chán mọi thứ. Thích lãng du. Nên anh đi lang thang.. Có khi vài năm sau anh move sang Colorado không chừng. Anh ở Portland này đã gần năm năm rồi.. - Ừ, anh qua đó kết bạn với anh rể của em đỉ very nice nhẹ - Không. Tên nào mà em khen very nice thì có nghĩa tên đó...là địch thủ của anh! Nàng phá ra cười lần nữa. Ngày xưa chàng cũng từng tuyên bố như vậy. Thằng nào dễ thương của em là dễ ghét của anh. Chẳng thay đổi gì cả. Vẫn ngang tàng như ngày nào. Nàng có thể thích cái ngang tàng đó ở người bạn chứ ở người chồng thì không . Bởi nàng nhút nhát. Nàng muốn làm vui lòng tất cả những người thân gần gũi nhất. Là gia đình nhỏ đến gia đình lớn.. Ngày đó nàng thích người chồng của mình phải dễ thương và được cha mẹ, anh chị em đến cô dì chú bác đều quý..Và nàng sợ cái ngang tàng của chàng sẽ biến nàng thành ốc đảo! Vào thành phố, chàng lái xe đến quán ăn Thái. Nàng dễ tính, cái gì ăn cũng được nhưng chàng không muốn đêm nay nàng phải nếm món lạ. Thái, gần gũi món ăn VN.. Quán nhỏ xinh. Ở San Jose, mấy cô em họ cũng đưa nàng đến quán Thái hay Việt - Em thấy phơ? Mỹ ra sao? - Thịt bò thì ngon rồi. Nhưng có nơi bánh phở kỳ quá vì không phải bánh tươi. Mà nhìn tô phơ? Mỹ, em phát ớn! Em cũng chê cua Mỹ luôn. Theo em, cua VN ngon hơn. Chàng mỉm cười. Là cô giáo rồi đấy nhưng "cô nhỏ" còn ngây thơ tệ và nhát như thỏ đế. Chỉ dám đi quán nước trong trường. Và một lần ở Làng Văn. Được cái là sau bốn giờ, phòng chỉ còn mình nàng. Căn phòng ấy cũng giống hôm nay. Nhỏ xinh. Nàng, dựa lưng vào ghế tựa, áo dài cổ bà Nhu, tóc thì khi buộc túm một mảnh phía trước ra sau bằng cái kẹp làm duyên. Nàng hay đổi kiểu tóc. Khi thì đánh rối rồi làm cái gì đó chàng không biết nhưng lại giống tóc cúp. Khi thì một đuôi. Khi thì hai đuôi- Sao em điệu thế, tóc cứ kiểu cọ lung tung?- Em thích. Thầy H. cũng nói có một cái đầu mà em đến mấy kiểu tóc! Trong bóng tối mờ mờ, phòng nàng buổi chiều hơi tối, đôi mắt to long lanh sáng. Chàng yêu nhất đôi mắt nàng. Bây giờ mắt không như xưa nhưng vẫn sáng. Tinh anh phát tiết cả ra ngoài, cũng chẳng phải là điều hay! - Tóc em có vẻ rụng nhiều nhỉ? - Thì đói rụng râu, rầu rụng tóc! Nàng lém lỉnh. Chàng im lặng. Chàng có nghe phong phanh về "nỗi rầu" của nàng. Quả là có xót xa cho người con gái ngày xưa chàng yêu dấu. Nhưng..thời gian còn dài, nàng sẽ kể. Đêm nay. Nhà chàng.. Chàng chăm sóc cho nàng ăn. Nàng không vui không buồn. Vì ở VN, nàng vẫn còn cây si. Nàng bật cười khi nghĩ ngày xưa cây si là quốc gia và sau này cây si là...! Có lẽ vì si nàng mà...họ chỉ cười trừ mỗi khi nàng bĩu môi chê..Với nàng, chi? Saigon là nhất. Saigon là hòn ngọc Viễn Đông. Với nàng, chi? Gia Long là nhất! Họ cũng chiều nàng. Những cái chiều rất thực tế làm nàng thấy buồn cười thay vì cảm động. Ngày xưa chàng tặng nàng tập thơ Bùi Giáng. Có lẽ vì chàng cũng hơi lập dị giống ông Vòm cây cối ngàn xanh xuân em đó Cành giơ ra là nhánh cũng theo về Hờn dâu biển rụng rời em đã rõ Thì trước sau vùng thủy thảo chung thề Bùi Giáng Vùng thủy thảo chung thề! nàng thinh thích mà không hiểu thế nào là vùng thủy thảo chung thề? Chàng tặng nàng khăn quàng mầu trắng điểm hoa ti gôn hồng. Không bao giờ là những món quà lớn lao. Chàng biết. Nàng đã được giáo dục, ăn của người là mang nơ... Còn sau này, những người . ấy đã đem cho nàng hộp sữa, chai dầu gội đầu..Nàng cảm thấy buồn cười.. Và chẳng thấy cảm được ai.. Nhưng tự ái nàng thì được vuốt ve. Ta vẫn còn chút gì quyến rũ đời đó ư? Bữa ăn chấm dứt. Người phục vụ đem kem và ổ bánh nhỏ. Rồi.. trước sự ngạc nhiên của nàng, ba người phục vụ cùng đứng hàng ngang hát Happy Birthday. Nàng tròn xoe mắt. Nỗi cảm động làm nàng không nói lên lời. Chàng đưa nàng ra xe. Gió lạnh quá. Chàng choàng tay qua vai gần như ôm nàng. Mới tháng mười mà Porland buốt giá.. - Sao anh biết hôm nay sinh nhật em? - Chỉ là tình cờ thôi em ơi. Sáng nay anh tìm được album cũ. Có hình em trong đó. Hình ấy hồi xưa anh chôm chỉa mà em không biết. Em còn nhớ không? - Không. Nếu biết, em đã đòi lại? - Hôm đó em đem album đại hội gì đó của trường ra đưa anh xem. Anh lén chôm tấm em đang ngồi làm speaker cạnh một thằng cha mập ú. Về nhà, anh có ghi ngày sinh của em ở dưới, cắt mặt thằng cha đó vụt mất!! Nàng lắc đầu. Chịu thua cái phá của chàng. - Thế là hôm nay em có hai ngạc nhiên, một là em quên nhưng con gái nhớ. Sáng nay em nhận thiệp chúc mừng của bé. Và bây giờ là anh! Chàng nắm tay nàng: - Còn ngạc nhiên thứ bả Nàng dò hỏi. Chàng không trả lời, lái xe khá nhanh. - Anh đi đâu vậy? - Về nhà anh? - Anh hỏi ý kiến em chưa? - Này, ba mươi năm trước, anh phải hỏi? Còn bây giờ thì không. Mà là anh ra lệnh! Nàng nhún vai. Có sao đâu? Bây giờ thì nàng đâu còn sợ bị người ta lén bỏ thuốc mê vào nước uống như lời mẹ dặn! Nàng bật cười khi nhớ đến con gái. Nàng cũng dạy con y hệt mẹ ngày xưa. Đừng bao giờ đến nhà bạn trai, không bao giờ đi nơi nào chỉ có hai người... Nhất là ban đêm, ở quán nước sẽ bị bỏ thuốc mệ. Con bé vâng dạ. Nhưng có bữa nó cười hăng hắc "Con nghe rồi. Mẹ nói mãi. Nhưng coi bộ ngày xưa không ai bỏ được thuốc cho mẹ nên bây giờ mẹ bỏ thuốc mê người tả" "Nói lảm nhảm cái gì đó?" Thế đấy, con bé từng chứng kiến mấy ông theo và nó kết tội mẹ bỏ bùa mê người ta!
Ngày ấy, nàng không dám đến nhà một người bạn trai nào. Trừ năm Cao học, nàng nghe lời dụ đỗ của ông anh và cũng là một ông thầy đến nhà để lấy cuốn sách học. "Ông thầy" nhỏ chỉ hơn nàng năm tuổi. Đó là mùa hè đỏ lửa 72. Chiến sự ác liệt. Ông thầy đang buồn. Sợ lệnh tổng động viên. Chính vì thấy anh buồn như kiến cắn (!!) mà nàng mới để anh chở về nhà. Vả lại năm đó- cũng đã xong cử nhân. Đang Cao học. Nàng tự cho mình..bớt sợ đàn ông! Anh đã lấy đàn. Em muốn nghe bài gì? nàng đã trêu chọc, thì Em đến thăm anh một sáng thứ năm! Anh cười, cũng hát Em đến thăm anh một chiều mưa. Anh hát khá hay. Anh đã tình tứ nhìn nàng. Nàng chỉ cười. Em đến thăm anh một sáng thứ năm Nắng trải đường đi, gió hôn bờ tóc Áo trắng đơn sơ nhìn anh bối rối Trời hôm nay vì em mà thêm xanh Sau này, anh chép mấy câu thơ đó cho nàng. Khi ngồi cạnh nàng và hát, anh định có cử chỉ gì đó. Nàng dơ nắm tay dọa. Anh thôi. Anh đưa nàng về. Con đường Phùng Khắc Khoan có hai hàng me chụm đầu nhau xanh ngắt. Và không gian bát ngát. Con đường nàng đặt tên là Con đường mùa đông- của riêng nàng. Nên nhà chàng, nàng không biết. Vì không dám đến nhà bạn trai bao giờ. Căn nhà nhỏ, vẻ xưa cũ. Ngày còn ở VN, nàng không hình dung được nhà ở Mỹ. Vì nhà VN thường hình ống. Số nhà biệt thự cũng cấu trúc khác. Nàng cứ thắc mắc, khi cần trái chanh cũng phải lái xe hơi đi mua thì làm sao! Lấy xe ra, mất công quá? Qua Mỹ rồi, nàng cười cho cái quê của mình. Vì cứ tưởng phải đóng cổng, mở cổng như ở VN! - Hôm nay sẽ bắt cóc em đến nửa đêm. Vì anh biết Tú thức đến 2 giờ sáng để đi đón mợ. Đúng không? - Cái gì anh cũng biết vậy? Chàng và nàng vào phòng bếp - Anh pha cà phê cho em nhé? - Nhưng em sẽ mất ngủ? - Thì anh ru em ngủ! Chàng tình tứ. Nàng mỉm cười. Chàng mở tủ lạnh: - Em còn thích chocolat như xưa không? - Không. Giờ phát ngấy rồi. - Nhưng hôm nay ăn lại đỉ Nàng nhìn. Im lặng. Chàng lấy mấy thanh chocolat: - Em ra phòng khách đỉ anh sẽ mang phin ra sau Nàng ra ngoài. Căn phòng giản dị. Trên tường là bức tranh Hội nghi. Diên Hồng. Đối diện là bức tranh hoa quỳnh. Chàng vẽ. Ngày xưa, chàng đã dùng chì than nguệch ngoạc vẽ nàng với suối tóc dài. Nàng đã giận dỗi, em không bao giờ có tóc dài cả. Em là đuôi gà. Tại sao mấy ông cứ thích con gái tóc dài. Anh đừng biến em thành người khác. Chàng không nói. Xé nát bức tranh. Nàng kinh ngạc. Rồi òa khóc. Chàng bỏ về. Nàng đã giận mấy tháng. Chàng làm hòa bằng bức mới, cô bé với hai đuôi gà nhí nhảnh. -Bức Hội nghi. Diên Hồng là họa lại phải không anh? - Sao em biết? - Thì bức chính đang ở VN! - ??? - Huy Tường đã tặng bức này cho bác em. Khi đi, công an khu vực đến xin, bác phải bấm bụng cho. - VC mà cũng biết thưởng thức Hội nghi. Diên Hồng? - VC này ở trong nam mà? Em cũng thích bức này lắm. Sau này Huy Tường có vẽ lại bức khác gửi sang Mỹ cho bà chị em. - Em rành Huy Tường nhỉ? Nàng phá ra cười: - "Lão" còn đòi làm..chú em cơ đấy? - ??? - Em biết " lão " trong buổi họp mặt Gia Long. Lão là rê? Gia Long. Nói chuyện cũng rôm rả lắm nhưng người ốm như que tăm và tay run lẩy bẩy vì uống rượu nhiều quá. Toàn là vợ chở. Khi nói chuyện mới biết " lão" là bạn của ông chú. Thế là hai vợ chồng đùa, đòi em phải gọi bằng chú thím! Em có đến nhà. Huy Tường vẽ đẹp. Ừ mà sao em quên không nói Huy Tường vẽ em nhỉ? Chàng đặt phin cà phê xuống bàn và ngồi cạnh nàng: - Thì hôm nay anh vẽ? Nàng bĩu môi. - Lại sắp sửa tương cho tôi tóc dài nữa chắc? Chàng ôm đầu nàng trong tay: - Không, hôm nay anh sẽ vẽ em như là em vốn có? - Eo ơi thế thì chán lắm! em bây giờ xấu xí, toan tính chuyện vô chùa. Anh bây giờ đãng trí, lên gác chuông nhà thờ!! (nhái bài hát của Phạm Duy ) Chàng chậm rãi khuấy ba thìa đường. Chàng không cho nàng uống cà phê sữa như gu riêng. Nhưng là một dung hòa. Hai của chàng và bốn của nàng để còn ba của chung! Chàng đưa thìa cà phê lên môi nàng. Hớp rất nhẹ nhàng, nàng nhoẻn cười: - Ngon. Lâu lắm rồi em mới uống đen. Chàng bẻ thanh chocolat. Và dịu dàng đặt đầu nàng trên vai mình. Nàng để yên. - Em không sợ như xưa nữa à? - Không. Em còn gì để mất? Chàng mỉm cười. Giây phút này không giống ngày xưa. Ngày cũ. Phòng nàng ở KH như thường lệ. Hôm ấy nàng mặc áo dài đen. Huyền bí và lộng lẫy. Chàng đã đứng dậy. Rời vị trí đối diện. Giả vờ đánh lạc hướng nàng. Bất thình lình đến đằng sau và một nụ hôn rất nhanh trên tóc. Nàng hét như bể phòng. Rồi sầm mặt đòi về. Chàng phải thề thốt không có lần sau ! - Năm anh đi là cuối 78. Thằng nhỏ, em còn bế trên tay, bây giờ chắc lớn lắm rồi? - Thì bây giờ nó có thể bế em? Cả hai phá ra cười vui vẻ. - Con gái giống em không? - Nhiều người bảo nó pha trộn. Nhưng nét nó dịu dàng, không sắc như em đâu? Chàng vuốt tóc nàng. Tóc còn mượt nhưng thưa quá. Đói rụng râu, rầu rụng tóc. Chàng nhớ đến câu nói của nàng. Hẳn phiền muộn nhiều lắm đã tàn phá.. - Em tính chuyện vượt biên năm nào? - 79. Ổng tính chứ em thì cứ lo nuôi con. Tuy vậy không thành công. Cứ đi rồi lại về..Nhưng cũng là số. Năm đó cô em chồng đi chuyến bán chính thức cuối cùng. Trước đó cô ta biểu ông anh rút tiền chuyển qua bán chính thức. Nhưng ông ta ngoan cố không nghe. Tiếng lá tre xào xạc đêm ấy nghe thê lương quá. Ngõ nhà nàng vẫn còn một bụi tre. Cũng là chuyến thứ ba của chàng. Suông sẻ. Vốn có sức khỏe và xuất thân kỹ thuật, chàng học lại dễ dàng. Bao chuyện đã cuốn hút. Vả lại, chàng nghĩ nàng đã yên phận. Hẳn là nàng chấp nhận -như một bà chị họ của chàng. Cắn răng -chấp nhận- và một đời người trôi qua dù ảm đạm.. Chàng biết rõ gia đình nàng. Nề nếp vẫn có vẻ xưa cổ.. Nàng đã ôm con về ngoại từ 78. Dường như sống một mình nhưng không dám cắt.. Thì cũng sợ gia đình mà nàng không dám lấy chàng. Và chàng đã không liên hệ... - Rồi sao? - Mấy lần sau cũng không được. Cuối cùng năm 82 thì nộp hồ sơ chính thức do cô em bảo lãnh - Những năm đó nước ngoài dễ nhưng VN thì gắt, đúng không? - Đúng. Trí thức vượt biên nhiều. Lắm nơi, họ không điều hành được công ty, nhà máy. Họ đã phải gửi thêm một số tiền cao hơn lương chính thức cho các giáo sư đại học vì sợ các vị này vượt biên hết? - Em có được không? - Tép riu như em làm sao có? chỉ cỡ giáo sư tiến sĩ thôi. Nhưng giáo sư vẫn đi! - Thầy H nghe nói chết hả em? Còn ông chú nào của em dạy Quang nữa? Nàng nhắm mắt. Cuộc đời có những hội ngộ kỳ lạ. Năm thứ hai, nàng nghe đồn thầy H. dễ thương. Nàng còn nhớ đã vào phòng thầy hỏi ghi danh chứng chi? X. Thầy nhỏ bé, nói chuyện rất dịu dàng. Sau đó nàng rủ cô bạn cùng học. Chứng chỉ lý nên cũng hơi khó với nàng, xuất thân ban Ạ Nhưng nàng chăm chỉ và đã đậu cao. Thầy rất quý nàng. Khi ra trường, lang thang ở Tổng Nha Kế hoạch mấy tháng. Về lại trường học Cao học. Một buổi tình cờ gặp Thầy. Nàng than. Thầy bảo về ban của Thầy. Nàng nộp đơn. Thầy cưng nàng lắm. Và là nguyên do cho mấy ông con trai ghét nàng. Họ bảo Thầy đưa nàng vô ban để làm kiểng chứ hóa thì biết gì về lý? Cả gia đình Thầy quý nàng. Thầy đã chết trên biển cả cùng hai con. Chuyến trước thì ba đứa thoát. Nếu thầy thoát thì nàng cũng đỡ nhiều lắm.. - Ừ, Thầy mất. Cô không tin và cứ đi xem bói vì ai đó nghe đài BBC loan tin GS Viện trưởng Hải Học Viện đã thoát và đang ở.. Còn chú em, chết thảm hơn nữa. Cả nhà chết hết, còn độc thằng con trai nhỏ. Khi lên đảo, người ta liên lạc và chú nó ở Pháp đón qua. Thật kinh khủng, chuyến đi tìm tự do đã tước của thằng nhỏ cha mẹ và hai anh.. Ông chú dạy Quang. Tiến sĩ đệ tam cấp. Năm thứ ba, nàng chỉ còn hai chứng chỉ. Nghe nói chỉ thêm hai chứng chi? Lý thì sẽ có thêm bằng cử nhân Lý Hóa nên nàng ghi danh học Quang. Thầy T. dạy lý thuyết. Bài tập do chú nàng dậy. Một lần nàng chui vô giảng đường I, giờ bài tập của chú.. Nàng bật cười. - Em cười chuyện gì thế? - Em nhớ khi em chui vô giờ bài tập của chú! Em vừa vô một chút thì Đ. cũng vô theo. Hai đứa ngồi bàn nhất. Rốt cuộc..không học gì cả. Đ. xé tờ giấy nhỏ, viết bên trên chữ Toa bác sĩ, bên dưới thì "LC đã xem Anh chi yêu dấu chưa?-Chưa. Thuốc gì? có đắng không? -Ngọt lắm- Không tin, Đ. hay giả bộ, chắc đắng. Bác sĩ cù là! " Hai đứa cứ thế viết qua lại rồi cười rúc rích. Có lần nhìn lên, em thấy chú bặm môi dọa em. Nhưng em hổng sợ! Mà bây giờ anh biết không, con gái em đang..cặm cụi post. Anh chi yêu dấu trên trang web riêng của nó! Chàng đưa thìa cà phê lên môi nàng: - Giọt cuối cùng nghe em! Giọt cuối cùng. Nàng lại nhớ ngày cũ. Anh hát và nói nàng đặt tên. Giọt nhớ nhung. Nàng đặt thế. Anh không chịu. Sao lại là giọt nhớ nhung? Phải là Giải nhớ nhung chứ? - Hồ sơ nộp từ 82. Mà sao..??? - Thì em đã nói, đó là những năm trí thức vượt biên nhiều. Nên họ đã không cấp xuất cảnh cho tụi em. Họ ghi trong giấy từ chối "Không cấp xuất cảnh. Trí thức ở lại xây dựng đất nước!" Chàng phì cười. Nàng cũng phì cười. - Rồi sao? - Thì xin nghỉ. Em nghỉ trước. Ông N. không dám xin nghỉ! - Sao vậy? - Công ty ông ấy là một công ty lớn nhất Đông Nam Á về.. Tất nhiên các bác không điều hành được. Sau thời gian cho Tổng Giám Đốc và các Giám Đồc ngồi chơi, họ đành mời lại. Tên Tổng Giám Đốc láu cá. Hắn ra điều kiện cho vợ con sang thăm cha mẹ ở XYZ. Thực tế là đi luôn nhưng thành ủy phải chịu. Điều kiện thứ hai là hắn toàn quyền chọn người cộng tác. Thành ủy cũng phải chịu luôn. Thế là hắn kéo nguyên ê kíp cũ lên, trong đó có ông N. Công ty khởi sắc lại. Thì anh tính, mấy bố lúc đó ở trong rừng ra, biết gì về máy móc hiện đại của Đức, biết gì về kinh tế?? Nhưng tên Tổng Giám Đốc cà chớn. Lúc đó có nhiều cơ quan đồng ý cấp giấy hứa xuất cảnh cho nhân viên. Lý do là để họ làm ngày nào hay ngày đó còn hơn họ nghỉ việc thì các bác không điều hành được nhà máy. Nhưng tên Tổng Giám Đốc tuyên bố, không cấp giấy hứa xuất cảnh cho ai cả. Vì vậy, ông N. không dám xin. Cũng vì lúc đó công ty đang làm ăn tốt, ông ta kiếm được khá tiền.. Chàng thở dài an ủi: - Thôi cái số em ạ. Anh biết có nhiều người cũng nấn ná làm việc vì không còn tiền. Xin nghỉ thì lấy gì để ăn? - Nhưng anh biết không năm..., chính tên Tổng Giám Đốc đó đã ung dung leo lên phi cơ! - ??? - Không biết hắn làm sao tài thế. Hắn tung tiền làm cái gì đó không biết mà ngày thứ hai họp giao ban đầu tuần, mọi người chờ còn hắn leo lên phi cơ đi định cư chính thức XYZ. Thành ủy và cả công ty không biết! Mọi người hồi đó đã nói hắn đi chui một cách chính thức là vậy đó? - Rồi ông N. lúc đó làm gì? - Thì vì tên Tổng Giám Đốc đi, công ty cần người cũ nên ông N. lợi dụng cái đó xin giấy hứa xuất cảnh. Tên Tổng Giám Đốc mới phải hứa cho. Nhưng năm 87 thì Úc bắt đầu khó. Họ lập thang điểm. Và hồ sơ rớt do ông ấy thiếu 3 điểm. Ông N. quá chủ quan. Trước đó đã biết tụi tư bản chấm điểm. Chị em đã hủy hồ sơ cũ, làm hồ sơ mới, không khai trí thức mà là công nhân! Và gia đình chị ấy đã đi. Còn ông N. khăng khăng giữ nguyên hồ sơ cũ, với cái trí thức thì Úc phải đánh rớt! Chàng thở dài. Có những người ra đi rất tình cờ. Họ chẳng có gì, chỉ leo đại lên tầu khi có cơ hội và đã thoát. Còn nàng? - Anh biết không? khi nhận tin Úc đánh rớt, em như phát điên. Nhưng sau đó em soạn thảo đơn và bắt đầu kế hoạch. Em dò la được từ một tên thông dịch của Sở Ngoại Vụ. Em đứng đón tên Trưởng phái đoàn Úc ngay cổng nơi phỏng vấn. Em chận và đưa đơn khiếu nại. Trong những vụ này, em có cảm tưởng đàn bà "lanh" hơn đàn ông?? - ??? - Ông N. sợ và tính chuyện cản em. Em nói em không ngán gì nữa cả. Nó đánh rớt, mình có gì mà sợ? Còn công an hả? em sẽ nói nếu công an hỏi "tôi chỉ nộp đơn khiếu nại cho hồ sơ tôi chứ không làm gì cả?" Bởi những năm đó, ai lân la lại nói chuyện với ngoại kiều thì công an cũng để ý, anh biết không? Em đang nói thì ông N. tiến lại. Tên Úc hỏi em, em nói người nhà. Hắn chỉ cười. Sau đó hì hì em mua một bức tranh sơn mài có hình Mẹ Maria và đem đến khách sạn Continental nhờ chuyển cho hắn. Em đã mò được cả tên và số phòng hắn mà. - Haha. Tính hối lộ ư? Nàng mỉm cười: - Tầm bậy. Em ngoại giao mà? Hôm sau em mặc áo dài vàng tìm đến Continental nhưng receiption nói hắn đi shopping. Em còn nhớ em đứng ngay ngã tư Nguyễn Huệ và Lê Lợi ngóng hắn. Cứ ngó trước rồi ngó sau vì không biết hắn đi phía nào. Một lần em quay lưng về phía chơ. Saigon thì cu cậu đi về. Hihi - Chuyện gì vậy? Nàng vui vẻ: - Cu cậu đi ngang em và quay lại nhìn. Vì áo dài vàng! Em mừng hết biết. Em lại chận hắn và nói. Hắn bảo rất tiếc, hắn đã đọc đơn khiếu nại của em, hắn cám ơn bức tranh em tặng, nếu hồ sơ em thiếu một điểm thì trong phạm vi hắn giải quyết. Đằng nầy ông N. thiếu đến 3 điểm! Hồi trẻ nàng yêu mầu hồng nhưng mặc áo đủ mầu. Tuy vậy nàng có cảm tưởng hai mầu đem may mắn cho nàng là trắng và vàng. Năm đó nàng còn trẻ, đang tuổi chín muồi của người phụ nữ. Nhờ đồng lương chết đói...mà nàng ốm o và mặc áo dài đẹp hơn xưa nhiều! Áo dài vàng quá đẹp đã khiến anh chàng đi ngang và quay lại nhìn.. -Thật đáng tiếc. Em đã xông xáo như thế mà không qua ba điểm!! Những điểm số trong cuộc đời. Có những điểm đã đầy những chàng trai tuấn tú ham học ra chiến trường. Có những điểm đầy những cô gái ra khỏi vòng tay người tình. Và điểm số tước đi con đường tương lai của nàng - Sau đó em làm sao? - Chẳng còn biết làm sao! Nhưng sau đó cô em ông N. nhờ một dân biểu viết thơ cho Tổng trưởng Di Trú xin đặc cách vì cô ấy đang ung thư. Đơn được chấp thuận. Em đã đi khám sức khỏe. Chỉ còn chờ chuyến bay. Nhưng.. Chàng im lặng. Nhưng! chữ nhưng vô số trong cuộc đời! Vì chữ Nhưng mà chàng cũng đã hụt cái vé du học và ra chiến trường.. Cũng may trước đó chàng đã có bằng Phú Thọ. Cái vé tu nghiệp.. - Cô em chết. Giá cô ấy chết muộn chừng ba tháng! Hồ sơ bể. Em ly dị năm 93. - Thế cuối cùng vì sao con em ở Úc? - Năm 94, ông N. làm hồ sơ khác do cậu em bảo lãnh. Em ký giấy cho con trai đi theo. Hai cha con đi năm 97. Con bé đi năm 2000. Sau đó tháng 7/2000, em làm song song hai hồ sơ: du lịch Mỹ và định cư Úc do con trai bảo lãnh - Thằng nhỏ mới qua, còn đi học, làm sao bảo lãnh? - Được chứ. Nó sponsor còn assurer là anh họ em. Ông ấy qua Úc đã lâu, nhà cửa nghề nghiệp ổn định cả.. - Vậy là em qua đây tháng nào? - Tháng 8. Mỹ vào thu. Rất đẹp. Cô chú đang bảo em ở đến cuối tháng12 cho biết cái lạnh của Mỹ.
7.
Cũng chẳng cần đến tháng 12. Chàng rủ nàng ra lầu sau. Phía sau hoang vu như khu rừng nhỏ. Chàng chỉ bao tấm: - Em biết làm gì không? - Không - Cho chim ăn. Nhiều chim lắm. Sáng nào anh cũng có cái thú rải tấm gọi chim đến. Nàng mỉm cười. Quả là thời gian. Có bao giờ nàng nghĩ rằng chàng- anh chàng ngang tàng bướng bỉnh - không biết sợ ai lại có những giờ phút làm bạn với chim Trời lạnh quá. Nàng run lên. Chàng ôm nàng trong tay: - Anh nhớ hôm đi. Cũng đã ôm em như thế này. Lúc ấy em không hét lên như lần vào trong phòng em vì lúc đó em đã có con và biết sẽ xa anh, phải không? - Chẳng biết nữa. Đâu phải cái gì cũng lý giải được đâu. Chắc mùa đông Cali cũng thế này thôi phải không anh? - Ừ. Chàng và nàng vào nhà. Nàng nhìn lên tường: - Anh vẽ hoa quỳnh bao giờ? - Cách đây tám năm. Hôm đó tự nhiên nhớ em quá đỗi. Dường như là anh nghe nhạc Ngày xưa Hoàng Thị. Hồi đó em rất thích bài ấy. Anh đã hát cho em nghe mấy lần ở phòng em, nhớ không? - Bây giờ anh hát lại đỉ - Giọng bây giờ chán lắm em ơi. Nghe Hoàng Thị, anh bỗng nhớ em vô cùng. Nàng thích những gì thơ mộng nhẹ nhàng. Và hình ảnh em tan trường về, anh theo Ngọ về..làm nàng yêu thích. Còn chàng, chưa bao giờ theo ai đường về. Chàng chỉ chận đầu xe người ta thôi! Nhớ một lần chàng vào trường TN. Ra chơi, nàng không còn giờ nhưng đang ngồi nói chuyện với các giáo sư khác. Chàng thản nhiên đi vào. Dáng dấp cao lớn, đẹp trai, rất ngang ngạnh, chàng chỉ nhìn nàng. "Cô nhỏ" rét run lên. Có trời mới biết cái anh chàng quỷ hành động gì? Nàng đứng dậy, xin lỗi các chị và theo chàng ra bãi xe. Nàng tức lắm. Mặt sưng một đống. - Anh tìm em có chuyện gì? - Câu cá? Nàng tròn xoe: - Anh có điên không? Anh dư biết sáng nay em ở đây còn chiều nay em dậy thực tập lý ở Khoa Học mà? - Đâu có điên? Em thấy anh điên bao giờ chưa? Đi theo anh đỉ Nàng đi theo. Cái anh chàng kỳ khôi. Khi thì rất dịu dàng, khi thì độc tài phát xít. Biệt thư. Gò Vấp. Với những gì nàng ưa thích. Hàng rào hoa râm bụt. Nó gợi cho nàng nhớ ngày học SPCN, thực tập mổ hoa râm bụt. Ao cá nhỏ. Và..hoa súng. Những bông súng mầu vàng chanh thật to. Nàng mê mẩn. Nhưng nàng vẫn cáu. Vì tuần sau, cũng giờ dạy đó, các ông bà giáo sư sầm xì, người yêu của Phượng Lan! Có là người yêu thì nàng mới vội vã bỏ phòng giáo sư đi theo như thế! Nàng giận dỗi: - Anh làm mất duyên con gái của em. Người ta tưởng anh là người yêu của em! - Thế em chấm mấy thằng giáo sư mít ở trường đó à? - Anh vừa thôi. Mít là sao? Anh ngon lắm à? Em sẽ kêu con kiến càng dập anh một bữa cho bõ ghét! Chàng tò mò. Nàng khoái chí. Ở trường này, có một chàng dạy môn gì đó nàng cũng chẳng quan tâm. Rất cao to, thân hình eo ót. Anh chàng gửi cho nàng một bức thư tình...quê nhất thế giới. Anh chàng khoe mình là...của chương trình võ sĩ Con kiến càng trên Truyền Hình! Nàng phì cười. Hèn chi thấy anh chàng hay mặc áo eo, khoe cái vòng số 1 lực lưỡng và số 3 nhỏ xíu! Chàng đòi gặp để uýnh bể mặt tác giả bức thư tình quê nhất thế giới! "Cô nhỏ" lại rét run lên. Thế đấy. Ai dám lấy anh làm chồng??? - Anh bèn lấy giấy ra vẽ hoa quỳnh. Em thấy đó, cánh hoa có phần hơi rũ vì anh đang tưởng tượng đến em. - Anh đã thấy hoa quỳnh nở muộn chưa? - Chưa?? - Một lần, năm 90, em đi ngang nhà kia trên đường Nguyễn Đình Chiểu. Hoa quỳnh nhiều quá. Hồi mình còn bé, hoa quỳnh đâu dễ nở anh nhỉ? nên các cụ mới quý, rủ nhau trà đạo để ngắm quỳnh. Còn bây giờ em không hiểu vì sao quỳnh nở tưng bừng? Em ghé vào xin. Tối đó, rất kỳ lạ. Em chờ mãi đến 12 giờ khuya mà quỳnh chưa nở! Em mệt quá đi ngủ. Sáng hôm sau khoảng 6 giờ thức dậy thì chao ơi thật tuyệt vời. Hoa quỳnh vẫn còn đó vươn cao! - Thế mấy giờ thì tàn? - Khoảng 9 giờ. Đó là lần đầu em chứng kiến một đóa quỳnh nở muộn. Phải chi như bây giờ em đã lấy máy hình ra chụp hoa quỳnh dưới ánh mặt trời rồi. Chuông điện thoại reo vang. Chàng nghe. Trả lời ngắn. Và mỉm cười với nàng: - Em cho Tú số cell phone của anh hả? - Tú gọi? - Ừ, nó đang thắc mắc, bà chị biến đi đâu lâu thế? Ái chà, ngày xưa anh ớn nhất bố mẹ em. Bây giờ em lại cho cậu nhóc bảo vệ em sao? Không biết. Nàng không lý giải được. Nàng chỉ gặp mình chàng trên đất Mỹ. Mà cũng vì chàng ở cùng thành phố với mợ. Nếu là nơi khác, chưa chắc nàng đến.. - Cho em về đi anh? Chàng thở dài.
8.
Anh thương Em về VN...trên xe lăn. Anh ngạc nhiên lắm nhỉ? Có gì đâu. Ba tháng ở Mỹ, em đi chơi lu bù và chẳng đau bao tử gì cả. Em đã ỷ y. Nên đã hết kim chích và em quên mua. Thực ra cũng tại cô nữa. Em định về sớm, cô bắt hoãn để dự đám giỗ bà. Tối trước em ăn ít, thức khuya đọc cho xong cuốn truyện của NNN. Hôm sau, ăn cũng ít và quá mệt vì lăng xăng làm giỗ. Buổi chiều, mọi người đến rất đông. Biết là em bay chuyến khuya nên ai cũng lại nói chuyện. Rồi liên tục các cú phone từ Los Angeles, Colorado, Texas, Canada và cả Pháp. Mọi người từ biệt em mà. Em nói nhiều quá, hụt cả hơi! Khi vào phi trường, em đã đói. Nhưng ráng nhịn để lên phi cơ ăn luôn. Ai dè 12 lên máy bay thì đến gần 1 giờ mới ăn. Ăn xong là em lên cơn đau bao tử dữ dội. Buscopan thì còn mà kim chích thì không. May nhờ có bà bác sỹ Mỹ hàng ghế trên, đem kim ra chích cho em. Đến Singapore, em còn đau và họ đã lo xe lăn cho em. Cũng tốt thôi. Ở phi trường Tân Sơn Nhất, ngồi xe lăn, có người lo hết mọi thủ tục hải quan và em ra rất sớm. Em cũng "lịch sự" cho cậu nhỏ đẩy xe, lo mọi thứ cho em...mười đồng. Về lại nhà xem truyền hình, nghe tiếng Việt..em thấy thú vị! ba tháng ở Mỹ, TV toàn xí xô em chẳng xem được gì. Em nói còn được chứ nghe thì tệ lắm..Bây giờ em mới thông cảm cho những người già, ở trong nhà, không đi đâu và thèm tiếng Việt biết bao! Anh ! Em sẽ rất nhớ Porland. Núi tuyết. Chùa Tầu. Vườn hồng. Sân trường đại học. Ly cà phê đen mà đã lâu lắm mới có người pha cho em uống. Cả buổi tối ở nhà anh. Một kỷ niệm đẹp. Em sẽ giữ mãi. Hoa nở để rồi tàn Trăng tròn để rồi khuyết Bèo hợp để rồi tan Người gần để ly biệt Vậy thì hãy để mọi việc xuôi theo dòng chảy, anh nhé. Em mãi là em gái.
Của anh.
Hoàng Lan Chi 
Giày cô đi là giày cao gót, Áo cô mặc là áo Lơ-muya, Tôi đây khác thể trò trìa, Thấy cô chúm chím, cô cười chê tôi thẹn thùng . . .
Đó là hình ảnh người phụ nữ Huế mà lão thi ông Ưng Bình Thúc Giạ Thị ghi nhận được tại Hội chợ Huế trong đêm 25 tháng 2 năm Kỷ Mão (1939). Hội chợ này có nhiều trò vui và cái mà người ta chờ đợi, cho là “lạ lùng” nhất đó là màn biểu diễn thời trang, giới thiệu kiểu áo “tân thời” mang tên là áo Lơ-muya. Đây là một cuộc cách mạng về y phục. Những kiểu áo xưa cũ phải nhường bước cho thời trang mới giúp người phụ nữ thêm xinh, thêm đẹp, làm bật nổi những đường cong của thân thể, tôn vinh cái dáng dấp yêu kiều. Kiểu áo Lơ-muya đến từ Hà Nội do hai họa sĩ Nguyễn Cát Tường và Lê Phổ vẽ kiểu. (Lê Phổ năm nay đã 92 tuổi, hiện sống tại Paris) .
Sở dĩ đặt tên áo Lơ-muya là vì tác giả kiểu áo tên là Nguyễn Cát Tường: Tường tiếng Pháp là Le Mur nên gọi luôn cho nó vừa mới, vừa lạ một thể. Chiếc áo này đến Huế đã gây xôn xao dư luận một thời, khuấy động nét yên tĩnh ngàn đời của Huế. Các bà mẹ thì lắc đầu, lườm nguýt, các cô trẻ thì náo nức, tò mò. Giới thủ cựu ở đây rất ghét các “mốt tân thời”, họ nhìn các cô đánh phấn, bôi son, đi giày cao gót, mặc áo Lơ-muya, xách bóp đầm bằng cặp mắt khinh thị. Giới nữ sinh thì đã có đồng phục của mình rồi, thay đổi từ màu xanh da trời sang màu tím Huế rồi màu trắng, nhưng áo nào cũng rộng, không ai dám mặc áo “xăng-tờ-rê”. Xăng-tờ-rê có nghĩa là có eo ở giữa, eo bóp vào để vòng một và vòng ba nhô ra (center). Họ rủ nhau đi coi các cô tân thời biểu diễn kiểu áo mới, đẹp thì có đẹp nhưng mà eo ơi, ”ôn mệ la chết, mặc chi ba cái thứ đó!” .
Áo Lơ-muya xem ra không hữu duyên với Huế nhưng lại được đón rước nồng nhiệt ở Sài Gòn. Các cô đào cải lương tỏ ra yêu chuộng cái kiểu áo dài gần chấm gót, tay dài, vai phồng, có đủ loại cổ tròn, cổ ngang và nhất là cái eo khít rịt. Các nữ nghệ sĩ cải lương tiếng tăm thời đó như Năm Phỉ, Phùng Há, Sáu Nết, Kim Thoa v.v... rất thích kiểu áo này và các phụ nữ khác cũng bắt chước mặc theo. Trong lúc đó thì Huế vẫn giương cao cờ bảo thủ. Có ai “đạp lên dư luận” để theo mốt tân thời, kẻ đó sẽ là đầu đề cho lời ra, tiếng vào.
”Y phục xứng kỳ đức”, ăn mặc phải xứng với đạo đức, phép tắc, người xưa đã dạy, phong tục rành rành không thể muốn thay đổi ra sao cũng được . Từ thời Hậu Lê, việc ăn mặc do triều đình quy định, đã ba lần ban hành luật lệ về y phục vào các năm 1661, 1664 và 1665 . Đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát nổi lên ở Đàng Trong, cùng với việc dời đô ra miền Trung cũng ban hành lệnh thay đổi y phục cho khác với Đàng Ngoài . Phụ nữ Đàng Trong, từ Quảng Bình trở vào không được mặc váy . Lệnh này do vua Minh Mạng ký đã để lại trong dân gian mấy câu ca dao hóm hỉnh:
Tháng tám có chiếu vua ra Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng Không đi thì chợ không đông Ra đi lột lấy quần chồng sao đang ? Có quần ngồi bán quán hàng Không quần ra đứng đầu làng trông quan !
Sách vở ta xưa viết về y phục rất hiếm . Chỉ thấy loáng thoáng qua Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức hoặc Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn là có đề cập đôi điều . Hình ảnh thì lại vô cùng hiếm hoi . May nhờ có các nhà nghiên cứu Tây Phương viết sách về ”les Annamites” trong khi thuật lại sinh hoạt của dân ta đã trình bày về cách ăn mặc của từng hạng người trong xã hội Việt Nam, từ giới vua quan cho đến hàng dân dã, qua đó ta được biết: cái áo dài của phụ nữ miền Trung là sự pha trộn hài hòa giữa chiếc áo tứ thân miền Bắc cùng với chiếc áo dài tha thướt của phụ nữ Chiêm Thành .
Nhà biên khảo J. L. Dutreuil de Rhins, năm 1889, đã đưa ra hình ảnh chiếc áo dài xưa nhất của người đàn bà Việt Nam vào thế kỷ 19 ở Đàng Trong . Theo đó thì cái áo dài này rất dài và kích rất rộng, không có eo, nơi cổ có kết một miếng vải mà người xưa gọi là áo “lá sen” hơi giống như loại áo Thanh cát của các quan văn, quan võ thời nhà Lê, chỉ khác là áo các quan này miếng vải hình lá sen kết ở phía sau vai . Dân thường và học trò cũng được mặc áo Thanh cát mỗi khi tham dự việc công, dĩ nhiên là kiểu dáng không giống áo của quan lại, nhưng màu thì giống . Đó là màu xanh lam . Bình thường mặc áo Chuy-y là áo màu đen . Màu áo Thanh cát cũng gồm hai màu khác nhau, xanh thẳm gọi là màu hòa minh, xanh nhạt gọi là màu vi minh .
Trong một bản hiểu dụ, tháng 7 năm Bính Thân của chúa Nguyễn Phúc Khoát thấy ghi: ”Lối may y phục thì theo tục nước mà thông dụng vải lụa, duy có quan chức thì mới cho dùng xen the và trừu đoạn, còn gấm vóc thì nhất thiết không được quen thói cũ dùng càn . Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tuỳ tiện . Áo thì từ hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền không cho xé mở . . .” (*)
Xem đó thì việc ăn mặc từ xưa phải theo những quy chế gắt gao, lâu ngày đã trở thành phong tục . Một đặc tính tiêu biểu của y phục xưa, nhất là y phục Huế, đó là đặc tính kín đáo . Áo quần thường dài, rộng trùm phủ thân thể trừ mặt mũi và bàn tay, bàn chân ra, nơi nào cũng phải che kín bất kể thời tiết nóng lạnh . Trước đây phụ nữ Huế, dẫu thuộc giới bình dân, bán chè, bán cháo buôn gánh bán bưng đều phải mặc áo dài .
Mặc dầu hồi đó đã có máy khâu của Pháp hiệu Singer nhưng các bà mẹ quý tộc, may áo dài cho con gái đều thích may bằng tay . Nhiều thợ may giỏi đã biểu diễn đường kim mũi chỉ đều ri y như may máy . May tay, hai vạt áo sẽ úp vào, kín đáo không sợ gió thổi “tung bay tà áo tung bay” mỗi lúc qua cầu . Đã thế mà khi các cô ra đường còn phải nhớ lời mẹ dặn: ”Ra đường cúi mặt xuống đất, về nhà mới cất mặt lên trời”, luôn luôn họ phải một tay giữ nón, một tay sẵn sàng khép hai tà áo lại để đảm bảo tính . . . kín đáo .
Cái lối dùng nút thắt của Huế cũng là điều đáng cho ta khâm phục thái độ “đề cao cảnh giác” của các bà mẹ Huế . Nút thắt bằng vải là một loại cúc áo rất khó mở . Nó là cái hàng rào cản rất hữu hiệu làm nản lòng các bàn tay ham hố và thô bạo khác . Với các loại cúc bấm, Huế gọi là nút bóp, rất dễ tuột . Để tránh “sự cố”, các cô về sau xài nút bóp phải dùng thêm cái khuy cái bằng thép ở nơi eo . Chính vì đề cao sự kín đáo mà vua Minh Mạng mới cấm cái váy tức là cái ”quần không đáy” .
Cấy gì tồng bộng hai đầu Bên ta thì có, bên Tàu thì không ?
Đó là câu đố về cái váy . Đã “tồng bộng” hai đầu thì còn làm sao mà kín đáo ?
Trở lại với “áo Lơ-muya và giày cao gót” . Lão thi ông Ưng Bình Thúc Giạ có đặt thêm câu Hò giã gạo hò ngay vào đêm hội chợ có trình diễn thời trang “Lơ-muya” cách đây 60 năm:
Áo Lơ-muya với giày cao gót Theo em, theo chị cái mốt tân thời Vỏ ngoài che đậy mà chơi Thảo ngay trong dạ để gương đời soi chung
Trong ý cụ - một nghệ sĩ phóng khoáng, nhìn rộng rãi hơn, thì y phục là cái vỏ ngoài, giữ gìn đạo lý, tinh thần bên trong mới là điều quan trọng . Chị em muốn làm đẹp hãy để cho họ được tự do . Thế nhưng việc hưởng ứng các mốt tân thời ở Huế xem ra không mấy sôi nổi để có thể gây nên phong trào . Hồi đó chưa có những nhà thiết kế, tạo mẫu hành nghề công khai cũng như không ai dám xuất hiện trước đám đông, nhún nhảy đi lui, đi tới để làm “người mẫu” .
Giới “áo dài” và những người chuộng mỹ thuật, thích đổi mới, đã âm thầm mỗi ngày một chút, tác động đến phục sức của các cô, các bà . Họ hết kéo dài vạt áo xuống gần chấm gót lại kéo cao lên đến đầu gối; hết xài cổ thấp lại sửa thành cổ cao đến 5 phân . Có cái cổ ba ngấn mà phải che đi, nghĩ cũng hoài của cho nên từ cổ 5 phân lại hạ xuống 1 phân hoặc đổi sang cổ tròn, không ngờ rằng ông bà ta xưa cũng đã dùng lối áo cổ tròn này rồi, gọi là áo viên lãnh . Hết cổ tròn lại đến cổ trái tim hoặc cổ ngang, bới tóc cao để khoe cái gáy nõn nà và một chút . . . vai .
Cuộc đời của chiếc áo dài phụ nữ Huế quả cũng trải lắm thăng trầm: từ chiếc áo cổ điển cài khuy, kích rộng, chẳng có lấy một tí “eo” đến áo nối vai (nối đen, nối đà), áo sống giữa (vì khổ vải hẹp), áo nối tay, áo vai phồng, áo raglan, áo eo, áo dài tha thướt, áo ngắn gọn gàng, áo thêu, áo vẽ, áo cài nút bên phải, áo cài nút bên trái, áo cài nút chính giữa (áo ba vạt) . . . Tất cả đó nói lên quyết tâm đổi mới cách ăn mặc và nhu cầu làm đẹp của người phụ nữ Huế, không ồn ào sôi nổi, cứ lặng lẽ mà hút hồn các bậc mày râu mỗi khi các vị này nhìn ngắm . Cũng bởi họ đổi mới một cách lặng lẽ nên các bà mẹ và những ai thủ cựu không kịp trở tay, nhất là sau Cách mạng Mùa Thu (1945), nữ giới đã vui vẻ xếp lô áo dài vào trong rương, khóa kỹ rồi khoác lên mình chiếc áo bà ba hay chiếc áo bộ đội để đi chiến đấu, cáng thương, tải đạn.
Phụ nữ đã được giải phóng về mặt chính trị, xã hội, tất nhiên vấn đề ăn mặc, phục sức cũng phải tiến lên hiện đại. Cho đến nay thì nữ giới Huế đã hòa đồng với chị em toàn quốc trong lãnh vực thời trang. Không có kiểu dáng mới lạ, xinh đẹp, kể cả táo bạo nào thiếu vắng nơi đây. Về Huế bây giờ không tìm đâu ra chiếc áo nối đen, nối đà, cả chiếc áo dài bằng vải “Dù ú” của mấy chị gánh gánh, bán cháo, bán chè cũng tuyệt tích từ lâu, chỉ còn lại một thứ trân quý nghìn đời mà thời gian qua không làm mất đi được. Đó là tà áo lụa trắng đơn sơ và mái tóc thề, chiếc áo mà Huy Cận đã ca tụng trong thơ:
Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong Hôm xưa em đến, mắt như lòng . . .
Áo em, mắt em cũng như lòng em đều toát lên một cái gì trắng trong, thánh thiện khiến họ Cù, người đã nhận Huế là quê hương thứ hai của mình sau Hà Tĩnh, đã có lúc phải trở nên ngơ ngẩn:
Đứng ngẩn trông vời áo tiêu thư . . .
Tiêu Lang
 | Mê Khúc | Feb 11, '09 1:02 AM for everyone |
Dâng ngang đời nhẹ tựa làn hương, Đưa người đi trong cõi vô thường Một cuộc tình níu kéo yêu thương Một người tình tựa như khói sương... (Mê khúc - Bảo Phúc) *
Huy lái xe ra khỏi sở. Chiều thứ sáu, hình như dòng xe cộ đông hơn, hối hả hơn. Chàng nhớ lại buổi đi chơi tối đầu tiên giữa chàng và Hạnh cuối tuần trước, trên một bong tầu giăng đầy những dây đèn đủ mầu sắc:
- Ông có bao giờ thấy được xá lợi Phật chưa?
- Xá lợi là gì thế?
- Trong kinh nói. Xá lợi là những viên ngọc tìm thấy sau khi trà tỳ (thiêu) một vi. Phật. Đôi khi nó giống như một hạt trai, mầu trắng đục ngũ sắc. Đôi khi nó giống như một hạt thủy tinh trong suốt, nhìn vào rất đẹp. Một vị đạo sư với giới hạnh tinh chuyên cũng có thể có xá lợi sau khi các ngài viên tịch.
Huy nhìn Hạnh hơi tư lự. Nàng có nhiều điểm giống người vợ cũ của chàng quá. Vợ chàng cũng rất mộ đạo.
- Hạnh có nhìn thấy xá lợi Phật bao giờ chưa?
- Rồi. Một lần. Chỉ tình cờ thôi ông ạ. Hôm đó, có một phái đoàn chư tăng ở Ấn Độ đi một vòng thế giới để triển lãm xá lợi Phật. Họ có ghé qua thành phố này. Phật tử tín tâm đi coi cũng nhiều. Họ xếp hàng rất dài để chiêm bái. Kỳ đó, em xếp hàng gần 2 tiếng mới xem được.
- Hay nhỉ...
Huy nhìn Hạnh. Nàng có đôi mắt ngây thơ rất lạc quan.
Hạnh nhoài gần nửa người ra khỏi bong tầu, nghiêng vai nhìn Huy với ánh mắt lung linh:
- Em mới nghe ở một ngôi chùa nhỏ, cách đây khoảng hai tiếng lái xe. Họ cũng vừa thỉnh được một viên xá lợi của một vị đại đạo sư...
- Thế à?.. Nhưng... Này cô... Cô đừng nhoài người ra như thế. Cô làm tôi sợ tới chóng cả mặt...
Hạnh nghe Huy nói thế lại càng nhoài ra hơn nữa. Miệng tủm tỉm:
- Ông sợ thật sao?
Huy quay mặt đi hướng khác, không dám nhìn Hạnh nữa vì chàng chỉ sơ. Hạnh sẽ rớt tòm xuống biển:
- Phải...
Tiếng Hạnh reo lên, đôi tay giang rộng ra như một cánh diều: - Ông coi nè. Em ngoan rồi. Không còn nhoài người ra ngoài nữa... Nói rồi. Hạnh lùi về phía trong bong vài bước, hai tay níu lấy cột cờ, ngước lên trời đầy sao:
- Em thích chiêm bái xá lợi ở ngôi chùa nhỏ ấy. Nhưng rất tiếc xa quá. Em sợ đi lạc....
- Nếu Hạnh thích. Tôi sẽ tình nguyện làm tài xế cho.
Mắt Hạnh ánh lên nỗi vui mừng:
- Thật nhé?
- Thật.
- Bao giờ ông có thể đưa em đi được?
- Cuối tuần tới được không?
Hạnh reo lên:
- Được chứ !!!. Cuối tuần tới. Mình sẽ đem Bé đi luôn. - Bé không đi được vì phải về thăm Nội. Bà cũng nhớ cháu lắm. Lại nữa đưa về đó cháu có cơ hội chơi với những anh chị em họ cùng trang lứa. Tội nghiệp con bé, suốt ngày ở với tôi, nhiều khi chỉ sợ nó bị... già trước tuổi...
*
Sáng thứ 7 trời thật trong. Huy đón Hạnh trước cửa. Nhìn Hạnh khệ nệ bưng ra một chiếc làn mây vuông. Huy ngạc nhiên hỏi:
- Cô đem theo cái gì thế kia?
- Trong này có đựng một ít bánh mì, thịt nguội và một ít nước uống.... - Hả? Mình có đi picnic đâu mà Hạnh đem nhiều thứ thế? Nếu đói, tôi nghĩ trên chùa cũng sẽ có thức ăn cho các Phật tử mà.
Hạnh ấp úng:
- Em chỉ sợ... chỉ sợ... ông...không thích ăn chay!!
Huy im lặng. Cảm động về mối chân tình của Hạnh. Đây là lần đầu, kể từ khi quen Hạnh, chàng mới có ý định nói về Quỳnh, người vợ cũ đã bỏ đi từ 2 năm trước.
Huy nói bằng một giọng tâm sự:
- Hạnh à.... Tôi đã kể chuyện về Quỳnh cho Hạnh nghe chưa nhỉ?
Hạnh nghiêng mặt nhìn Huy. Một vài sợi tóc cắt ngang khuôn mặt trắng hồng:
- Chưa. Em vẫn chờ đợi điều đó. Nhưng nếu ông chưa sãn sàng thì cũng chẳng saọ...
Huy nói bằng giọng cảm động:
- Cảm ơn Hạnh. Thực ra, chuyện cũng chẳng có gì cần phải kể. Nhưng tôi không bao giờ nhắc tới vì đối với tôi nó quá riêng tư. Nó làm tôi ngại ngần khi phải nói với bất cứ người nào nếu không thân....
( Huy ngừngmột chút như để sắp xếp câu chuyện cho mạch lạc).
Chúng tôi yêu nhau bảy năm mới làm đám cưới. Quỳnh đẹp và có duyên. Ngoài ra, nàng rất thích làm thơ và mộ đạo. Tôi cứ tưởng rằng chúng tôi rất hợp nhau, nhưng tới khi về sống với nhau mới thấy những "hạt cát" trong chiếc giầy. Dẫu vậy, tình yêu tôi dành cho Quỳnh vẫn không mảy may suy giảm.... Nhưng đối với Quỳnh lại khác. Nàng là con người rất lý tưởng và thích mọi điều hoàn hảo. Chắc có lẽ vì vậy mà nàng đã cảm thấy thất vọng. Nàng đâm ra biếng ăn, biếng nói... Nàng dành hết thời gian nghiên cứu về Phật pháp. Khoảng thời gian trước khi bỏ đi, Quỳnh hay có những hành động bất thường. Đôi khi nàng vắng nhà mà chẳng báo là nàng đi đâu, với ai... Khi về thì nàng thường đắm mình vào trong một thế giới riêng tư của mình. Tôi hiểu, một ngày nào đó tôi sẽ mất nàng vĩnh viễn... Nhưng tự ái (ngông cuồng) của một gã đàn ông và sự tôn trọng quyền tự do cá nhân của người khác, tôi đã im lặng và chờ đợi. Chờ đợi một chuyện gì đó sẽ đổi thay. Nhưng việc đổi thay lại trái hẳn với điều tôi mong đợi. Một hôm, nàng bỏ đi. Lúc đó Bé mới lên 5 tuổi....
Huy ngừng lại ở đó. Không gian như khoác lên một nỗi buồn man mác... Thay vì cho xe chạy ra hướng xa lộ. Chàng lại chọn đi con đường dọc theo bờ biển. Tuy xa hơn, nhưng nhớ Quỳnh, chàng muốn đi lại con đường này. Con đường mà ngày xưa, khi Quỳnh còn là của chàng, cả hai thường lang thang trên đó. Khi thì họ ghé ra biển, khi vào những quán ăn, đôi khi, chỉ đi qua những phố phường, những biển xanh, những núi, những con đường thơ mộng, quanh co. Huy bỗng yêu vô cùng những con đường ấy. Vì ngoài cảnh đẹp thiên nhiên, nó còn khoác lên rất nhiều kỷ niệm của chàng với Quỳnh. Kỷ niệm nhiều tới độ chàng cứ ngỡ con đường, hàng cây, quán ăn, núi, biển v.v.. đều có tâm hồn. Chúng thường thầm thì, trò chuyện trong những lần chàng đi quạ
Tiếng Hạnh nghe mơ hồ như từ một tầng mây trên cao:
- Ồ... Con đường này tuyệt đẹp.... Ông coi, bên kia là biển xanh ngăn ngắt, bên này là dãy núi thẳng đứng. Em có cảm tưởng trong cái dịu dàng sâu thẳm của biển, còn có cái hùng dũng của núi với mây xanh...
- Phải... Tôi rất thích con đường này. Nó cũng cưu mang rất nhiều kỷ niệm giữa tôi và Quỳnh. (Đổi giọng) Hạnh có bao giờ đi máy bay từ Sàigon lên Dalat chưa nhỉ? Con đường từ phi trường Liên Khương về thành phố cũng đồi núi từa tựa giống như thế này. Nhưng mỗi con đường đều có một vẻ đẹp khác nhau. con đường Liên Khương có một vẻ đẹp hoang dại, với những khúc quanh đầy nguy hiểm, một bên là núi đá đứng dựng ngược, thách đố với trời cao, bên kia là vực thẳm sâu hun hút.... Những lần lái xe như bay về thành phố, tôi thường có những cảm giác gờn gợt về sự hoang dại ấy... Còn con đường này, tâm thức tôi lại khác hẳn. Nó khoáng đãng, tươi mát... Có lẽ vì nó còn cưu mang những mảnh trời mây xanh và biển. Lại còn điểm tô thêm bằng những đoạn xuyên qua những thành phố nhỏ, rộn rã tiếng người, tựa như cái má lúm đồng tiền trên khuôn mặt người thiếu nữ....
Hạnh bật cười thành tiếng:
- Ông có trí tưởng tượng phong phú lắm nhỉ?
Huy nghiêng mặt nhìn Hạnh mỉm cười:
- Mơ mộng có lẽ đúng hơn... Nếu không mơ mộng thì đời sống chỉ là một đời sống chết...
Chiếc xe vẫn lao đi vun vút. Họ đi qua những khúc đèo.
Cảnh vật đẹp như trong tranh vẽ. Buổi trưa, họ dừng lại ở một quán ăn bên bãi. Biển nơi đây đẹp và xanh ngăn ngắt... Mùi biển mặn thổi lồng lộng. Hạnh phóng tầm mắt nhìn ra biền khơi, nắng đã lên cao, ánh nắng vỡ thành trăm ngàn mảnh trên mặt biển đến chói mắt:
- Em được sinh ra ở miền biển. Nên biển đối với em nửa rất thân thương, nửa rất kỳ bí. em cứ hay tưởng tượng dưới đáy biển sâu có thủy cung tráng lệ. Có một ông vua khi hiền, khi dữ và có nàng công chúa rất xinh đẹp muốn biến thành người...
Huy cười:
- Cô bảo tôi hay tưởng tượng. Nhưng có lẽ cô còn tưởng tượng và mơ mộng nhiều hơn tôi nữa...
Hạnh cười khúc khích:
- Chắc thế...
Vì đi bằng con đường ven biển và ngừng lại ăn trưa. Nên gần 2 giờ chiều họ mới tới nơi... Đó là một ngôi chùa sư nữ. Nằm cách thành phố khoảng hơn 2 tiếng lái xe. Ngôi chùa nhỏ, nhưng rất thanh tịnh. Rõ ràng có những bàn tay chăm lo của phái nữ nên ngôi chùa trở nên thơ mộng hơn. Huy rất thích ngôi vườn sau sân chùa. Các vị sư cô trồng tỉa và trang hoàng rất thanh nhã. Ở đây, lác đác Huy thấy có trồng một vài giống Lan rất quý. Dọc theo sát chân tường, được tô điểm thêm vài bụi trúc đen nhánh. Cuối vườn có một khoảng trồng những loại rau thơm và hoa quả. Đặc biệt nhất là có một dàn dây leo với những đóa hoa tím tím, bé tí như những hạt ngọc. Dưới dàn được đặt một cái bàn nhỏ với 4 chiếc ghế. Trông rất nên thơ. Người mù tịt như Huy nhìn vào cũng khởi tâm muốn rũ bỏ hết bụi trần để vào chùa sống. Không phải sao? Đời sống thật yên bình và thơ mộng, ai mà chẳng thích!!
Hình như chùa không có nhiều Phật tử lui tới, nên không khí rất thanh tịnh, thoáng mát. Không có cảnh nô nức ồn ào như những ngôi chùa lớn trong thành phố Huy ở.
Họ gặp một vị sư cô đang quét lá sân chùa. Cô mời họ vào trong phòng trai. Căn phòng đơn sơ, chỉ có mỗi một cái bàn hình chữ nhật và tám chiếc ghế gỗ. Mùi trầm hương thoang thoảng đâu đây. Hạnh hỏi:
- Thưa sư cô, em có nghe người ta nói chùa này vừa thỉnh được viên xá lợi của một vị đạo sư nên muốn ghé để chiêm bái...
Sư cô thong thả trả lời:
- A Di Đà Phật. Cám ơn tín chủ có lòng. Nhưng chắc tín chủ đã nghe lầm chăng? Vì chùa này từ xưa giờ chưa hề có được phước đức tới độ thỉnh được viên xá lợi nào cả...
Hạnh chưng hửng:
- Ô.. Vậy mà em cứ tưởng...
Sư cô vui vẻ mời:
- Nhưng đã lỡ ghé thăm, mời tín chủ vào chùa lễ Phật và vãng cảnh chùa...
Hạnh chắp 2 bàn tay trên ngực như một búp sen:
- A Di Đà Phật. Cảm ơn cô...
Từ nãy giờ Huy đứng lóng ngóng bên cạnh chưa biết làm gì. Thấy Hạnh chắp tay như một lời chào. Chàng cũng chắp tay và máy móc niệm theo:
- A Di Đà Phật...
Họ vào chánh điện lễ Phật. Cũng giống như những chánh điện của những ngôi chùa khác. Tượng Phật lớn được đặt cuối phòng. Hương trầm thơm ngát tỏa một vùng. Những lư, hương, hoa, đèn, lọng v.v. đều sáng choang, ngăn nắp. Hạnh thụp xuống lễ và lâm râm cầu nguyện. Còn Huy đứng bên xá xá vài xá rồi lùi ra sân sau. Chàng cứ bị thu hút bởi chiếc sân cỏn con ấy. Từ những bụi trúc, Lan, Hồng, và chiếc bàn dưới dàn hoa tím.
Chàng còn đang ngẩn ngơ thì bỗng thấy cái dáng quen quen. Nhưng vì vị sư cô đang loay hoay múc nước, nên chỉ thấy được đằng sau với dáng người nhỏ nhắn, đôi vai gầy mảnh mai nhô lên dưới làn vải nâu...
Chàng bước lại gần nhìn cho rõ. Vị sư cô tình cờ quay lại. Bốn mắt gặp nhau. Tim Huy như muốn vỡ ra từng mảnh. Chẳng lẽ nào người lại giống người đến thế?
Khuôn mặt có trắng xanh và gầy guộc hơn xưa, nhưng đúng là Quỳnh của Huy đây rồi... Chàng cảm động tới độ lắp bắp:
- Em.... đấy... ư...?!
Đôi mắt người nữ tu hơi chao đi. Nàng vờ cúi xuống bưng bình nước. Huy vội cúi xuống theo đưa tay giúp nàng. Hai bàn tay đụng nhau. Người nữ tu kêu lên một tiếng khẽ rồi buông tay lùi lại thật nhanh. Nàng chẳng nói với Huy thêm một lời nào nữa. Chỉ run run chắp hai bàn tay vào nhau thay một lời chào rồi quay mặt, biến mất vào hậu gian bên cánh trái.
Còn lại Huy. Chàng vẫn cầm sô nước trên tay. Nghe vết thương mình vừa chớm mọc da non, nay bỗng bị toét vỡ ra thêm lần nữa. Chàng nghe ngực mình nhói đau. Chàng loạng choạng như người muốn ngã quỵ. Nghe đâu đây tiếng Hạnh đang reo lên ở cuối vườn:
- Ô kìa... Ông ơi, sao lại có một cánh bướm tam sắc đang vờn trên những cánh Lan..
Chiêu Hoàng Khi gần tới khu đặc biệt, bác sĩ Giám Đốc bệnh viện chặn tôi lại và nói với tôi vài lời cảnh cáo về bệnh nhân mới này.
- Nên nhớ đây là một trường hợp bất thường. Tôi và các bác sĩ khác chưa quyết định được là nên xếp bệnh nhân này vào trường điên hay không, nhưng hắn đã bị một cú "shock"rất mạnh, và phản ứng của hắn cũng không được bình thường.
Thoạt nhìn, bệnh nhân không có vẻ gì là bạo động. Hắn gần 30 tuổi và mặc dù căn bệnh nào đó đang tàn phá tim óc nhưng không có một dấu vết nào để lộ trên cơ thể cường tráng và bộ mặt hiền hòa thông minh của hắn cả. Ngay cả quần áo hắn mặc cũng tươm tất. Khi nhìn thấy tôi, hắn đứng dậy chào hỏi thật lễ phép.
Sau lời giới thiệu của bác sĩ phụ trách, hắn lại rơi vào tình trạng im lặng bất an, hắn nhìn tôi bằng đôi mắt đầy mây mù. Tôi dùng đủ mọi cách để gợi chuyện nhưng đều vô hiệu. Cuối cùng tôi chợt nói :
- Này cậu Tuấn Anh, có phải cậu đã sống ở Bhuket không?
- Không, tôi chưa hề sống ở đó bao giờ cả mà sống ở Pa-nga trên đảo Taimuang nhiều năm.
- Đảo Taimuang à, đây là trái tim của xứ mỏ. Chắc ở đó vui lắm nhỉ ?
- Giống như địa ngục vậy.
Tôi nhìn thẳng vào mắt Tuấn Anh xem có một trận bão nào đang nổi lên trong tâm trạng của Tuấn Anh khi đi từ thờ ơ lãnh đạm sang sôi nổi không. Tôi hỏi tiếp:
- Như vậy các vùng mỏ khác nhau như thế nào?
- Trong những tỉnh như Haadyai thì có đàn bà, bài bạc và rượu. Còn ở Taimuang thì khác, chỉ toàn là hoa khuất hương và cá sấu.
- Tôi không hiểu cậu nói gì. Cậu có thể nói cho rõ hơn được không?
- Để tôi kể cho ông nghe nhé.
Tôi đã phá vỡ chiếc đập và nước lụt sẽ dâng cao. Từ lúc đó, tôi không gián đoạn câu chuyện của Tuấn Anh kể. Câu chuyện này được viết lại hoàn toàn đúng như lời của chàng và không thêm bớt một chi tiết và dĩ nhiên tôi phải đổi lại tên những nhân vật trong câu chuyện.
Tuấn Anh bắt đầu kể:
"Khi tôi được 16 tuổi, cha tôi lúc đó là Thống Đốc thủ phủ Pa-nga. Ông gởi tôi theo học tại Penang trong 5 năm. Khi tôi tốt nghiệp thì ông về hưu. Ông là loài chim hiếm, có cái nhìn rất xa và nhận thấy dân tộc Thái cần phải thoát ra khỏi sự nô lệ về kinh tế của người nước ngoài. Ông luôn luôn khuyến khích tôi theo học về ngành kinh tế thay vì học làm công chức và tôi cũng thực hiện giấc mộng của ông. Khi ông về Bangkok để dưỡng già, tôi ở lại Pa-nga và làm việc cho công ty hầm mỏ người Úc với chân thư ký. Rồi vì tôi biết tiếng Mã Lai, Phúc Kiến và Hải Nam ngoài tiếng Thái và tiếng Anh, công ty trả cho tôi 200 baht một tháng, đây là mức lương cao, nếu tôi về Bangkok sống với cha thì rất khó tìm được công việc nào trả như vậy".
"Sau hai năm làm việc với công ty Úc, tôi đổi sang làm với công ty Mỹ. Công ty Yukon Minung Company có trụ sở tại Taimuang cần một người làm quản đốc các người lao động Á Châu cũng như liên lạc với chính quyền địa phương. Tôi nghe tin lnên nộp đơn liền. Mặc dù có hơn một chục ứng viên, tôi được chọn. Lương của tôi nhảy vọt lên 150 đô la Mỹ mỗi tháng, tương đương với 400 baht. Ngoài ra, viên giám đốc còn cho tôi nắm giữ những giao kèo và nhiều việc khác nữa, lúc đó mỗi tháng tôi đem về trên 800 baht".
"Ông thấy là 1 thanh niên mới có 24 tuổi đầu mà lãnh số lương cao như vậy thì hậu quả sẽ ra sao rồi. Nó sẽ làm thay đổi hoàn toàn con người của tôi. Khi sống với số lương 200 baht, mỗi tháng tôi có thể dành dụm được 1 số tiền. Cuộc đời tôi bình thản, những giờ nhàn rỗi tôi thường đọc sách hay nghe nhạc. Nhưng với số lương 800 baht, chẳng tháng nào tôi để dành được nữa".
"Tôi bắt đầu biết tới đàn bà, rượu chè và bài bạc. Lúc nào tôi cũng tự cho mình là 1 lãnh tụ, không chấp nhận người nào hơn mình và lúc nào căn bịnh lãnh tụ cũng ám ảnh tôi. Tôi tự cho mình ở trong 1 giai cấp cao trong xã hội và ở bất cứ nơi nào, trước mặt tôi người ta đều tâng bốc tôi".
"Tôi trở thành 1 tín đồ nhiệt tình nhất trong đời sống về đêm tại Taimuang. Sau giờ làm việc, nhất là ban đêm, người ta thấy tất cả những quyến rũ đủ loại. Từ văn phòng chính tại cửa sông, ta có thể tới Taimuang bằng 2 đường. Con đường thông thường là ngược dòng sông tới Takuapa. Sau khi lên bờ phải đợi xe buýt tại con đường Tungmatrao để đi về xuôi. Như vậy muốn tới Taimuang phải trải qua 5 tới 6 giờ và cũng không biết đợi xe buýt hết bao lâu nữa. Con đường ngắn hơn là năng qua sông bằng thuyền rồi đi bộ xuyên qua 1 khu rừng là tới Taimuang. Với đường tắt này chỉ mất khoảng 3 giờ thôi nhưng lại có nhiều bất tiện: rất dễ bị lạc trong rừng và con sông này có rất nhiều cá sấu. Một phần con sông lúc nào cũng bị náo động. Khi cha tôi còn là Thống Dốc tại Nakorn Sritamaraj, tôi thường đi săn cá sấu tại Pak Payur, nơi được coi là nguy hiểm lắm rồi, thế mà không thể nào so sánh được với con sông này. Những con thú nguy hiểm này có thể phóng từ mặt nước lên thuyền như không vì vậy không ngạc nhiên khi thấy làng mạc ở đây rất thưa thớt và rất ít thuyền bè dám vượt qua con sông này, nhất là những thuyền nhỏ.
Những người tại Taimuang muốn thăm viếng cơ sở khai thác mỏ của chúng tôi đều thẳng thắng từ chối vượt qua sông nếu không gởi thuyền to và mạnh. Hai cạnh thuyền phải thật cứng và khép kín".
"Dĩ nhiên là khi đi, tôi sử dụng thuyền thật tốt của công ty. Khi lên bờ, tôi đã quen thuộc với đường đi nét bước trong rừng, tuy vậy cọp beo lại thường hay xuất hiện nơi đây. Nhưng ông thấy sức mạnh của sự cám dỗ ra sao rồi. Cọp, beo, cá sấu vẫn không cản được ý chí đi tìm lạc thú của tôi. Tại Taimuang, tôi cũng thích những lời ca tụng về tôi như người ta ca tụng vị thần hổ vậy, nhưng rồi tôi phải đụng độ với lãnh chúa ở đây. Tiếng tăm của người này còn vang dội ra ngoài cả Taimuang nữa. Tên hắn là Tiêu Sung, gốc Trung Hoa".
"Người ta gọi hắn là đại ca Sung vì hắn là đại ca của mọi người quanh đây. Không ai có thể quá to hoặc quá bé mà lọt lưới hắn cả. Uy quyền của hắn bao chùm suốt dọc vùng Takuapa sang Takuatung, từ Pa-nga, Koakloy tới Tungmaprao và đó là uy quyền tuyệt đối. Có thể nói 1 cách không quá đáng là trong mọi trường hợp, có hợp pháp hay không, đều được Sung giải quyết sau đó mới tới tòa án".
"Sung cũng nghĩ tới việc lấy lòng các viên chức quan trọng trong chính quyền, hắn có cả một đội xe để chuyên trở các VIP của nha quan thuế. Một chức sắc nào đó chỉ nói nhỏ 1 tiếng là có đủ những điều mong muốn. Những viên chức còn trẻ đã chóa mắt và như bị thôi miên vì sự khoa trương và hào nhoáng đó rồi chẳng bao lâu sẽ là công cụ của hắn".
"Những việc làm của Sung khiến tôi không thể ngồi yên được và chẳng bao lâu tôi phải đụng độ với hắn. Trong trường hợp thông thường, tôi không bao giờ chê trách 1 người có lòng yêu nước cả. Nhưng Sung đã đối xử với người bản xứ mặc dù chưa bao giờ hắn tỏ lộ ra ngoài mặt. Cái khéo của Sung là luôn luôn che dấu được sự khinh mạn này, nhưng tôi nghĩ là về phương diện khôn ngoan, tôi không thua gì hắn nên tôi không bao giờ tỏ sự thù ghét hắn trước mặt mọi người cả. Về phương diện cờ bạc, Sung là 1 tay lão luyện còn tôi chỉ là tay mơ mới vào nghề, nhưng đôi khi tôi cũng thắng hắn bằng 1vài tiểu xảo. Dĩ nhiên mọi người bàn tán, cười về sự thành công của tôi. Việc này làm cho Sung căm tức ngầm trong bụng và không bao giờ tha thứ cho tôi".
"Sung là ông vua trong vùng này đã lâu vì vậy sự hỗn xược ngu muội của tôi ví như chiếc gai đâm nhọn vào móng vuốt làm cho mưng mủ. Không một con thú dữ nào có thể chịu đựng được tình trạng này lâu hơn được mà không vươn những móng vuốt ra. Tôi cũng thấy có sự nguy hiểm này. Rồi đúng vào một đêm kia... cho đến..."
- Ông có biết gì về loài hoa khuất hương không?
Tôi đang chơi vơi trong ý nhĩ như bị đưa vào cõi ma quái với câu chuyện của Tuấn Anh. Khi chàng thình lình ngưng câu chuyện và quay sang hỏi làm tôi hơi giật mình. Tôi nhớ lời dặn của vị bác sĩ đã nói cho tôi biết là bệnh nhân có thể có những hành động bạo động. Tôi vội vã trả lời:
- Tôi biết nhưng chưa nhìn thấy bao giờ.
- Đây là loài hoa quí hiếm ở Bangkok nhưng mọc rất nhiều ở miền nam, đặc biệt là tại Taimuang. Để tôi tả loài hoa này cho ông biết nhé: Đài hoa màu tím mềm tựa như nhung bao bọc dưới các cánh hoa. Cánh hoa rất dày, cứng và như xáp. Hoa chỉ nở trong vài ngày thôi, nhưng trong thời gian đó, hương thơm của nó tỏa rộng lấn át tất cả các loài hoa khác. Mùi của hoa rất mạnh, thật quyến rũ và độc tôn.
"Ông có thể cho là lạ lùng khi thấy Sung, một người Tàu lại lấy tên loài hoa Thái Lan đặt cho đứa con gái độc nhất của mình, Khuất Hương. Hắn phải biết là đặt tên cho con sẽ ảnh hưởng đến đời sống của con mình như thế nào chứ. Khi được 19 tuổi, Khuất Hương rất thông minh và thật quyến rũ. Giống như loài hoa khuất hương, thoạt nhìn thì không có gì đặc biệt, nhưng lần sau gặp lại, sắc đẹp của nàng sẽ hút với một lực vô hình thật mạnh mẽ. Tính tình của nàng rất hợp với tên của nàng mang: thay đổi thình lình mà không có dấu hiệu nào báo trước. Khuất Hương là một cô gái thật quyến rũ, tính tình rất cương quyết và độc tôn. Khi đã quyết định việc gì, không một quyền lực nào trên trái đất này có thể làm nàng thay đổi được".
"Từ nhỏ Khuất Hương theo học tại Bhuket. Cho tới khi được 12 tuổi, cha nàng quyết định giữ nàng ở nhà như bao nhiêu cô gái Tàu khác. Nhưng hấp thụ được tính tự do của các cô gái Thái khác, nàng cương quyết chống lại tính độc đoán của ông bố. Sung là một nhà độc tài, nhưng cũng rất thực tế. Ông ta thấy đứa con gái của mình cũng thừa hưởng tính tình của mình nên chịu nhún nhường một nửa. Ông ta gửi Khuất Hương vào nội trú trong 1 tu viện tại Penang. Ý của Sung không hẳn là mong cho Khuất Hương tiếp tục theo học mà cốt chỉ ngăn ngừa cho nàng khỏi bị tiêm nhiễm đời sống của các cô gái Thái Lan mà thôi".
"Sau khi rời khỏi nội trú tại Penang chẳng bao lâu, đụng độ không thể tránh được giữa hai cha con xẩy ra. Tiêu Sung lúc nào cũng nghĩ đứa con gái của mình luôn luôn phải được nhốt trong nhà. Khuất Hương cho đó chẳng có gì quan trọng, nàng ít khi ra khỏi nhà một mình, không bao giờ đứng ngoài cửa trước mà không có lý do. Tính đoan trang của nàng làm dịu phần nào tính khó khăn của Sung, vì vậy khi Khuât Hương có làm gì hơi không vừa ý, Sung chỉ nhắm mắt làm ngơ thay vì quở mắng để tránh việc có thể dồn nàng vào việc chống đối. Nhiều khi Sung cũng nuông chìu theo ý của nàng những việc nhỏ nhặt".
"Khi tôi nói là Khuất Hương không ra đứng trước nhà, ông nên hiểu là những căn nhà miền nam Thái Lan không khác gì những căn nhà mà ông thấy tại Bangkok: dọc theo bên đường là căn nhà nọ sát căn kia. Nhưng tại đây nhà rộng hơn nhiều lắm. Trên mái thường làm thêm các khoảng trống để cho ánh mặt trời chiếu vào. Các khoảng trống này được che bằng các miếng kính hay nhựa, tùy theo nhà đó giàu hay nghèo. Trong khoảng trái đất này, những nhà tư bản Tàu giàu có cũng chỉ sống trong những căn nhà như vậy thôi. Khi người Tàu xây những căn nhà sang trọng cũng vì thể diện. Họ thích sống ngay tại nơi mà họ làm ăn phát đạt".
"Căn nhà của Tiêu Sung cũng không đi ra ngoài khuôn mẫu này, nhưng nó lại nằm ngay ven rừng xa thành phố, không bị làm phiền bởi tiếng ồn ào của xe cộ. Trong nhà người Tàu rất ít khi thấy con gái đứng ngoài cửa trước và mặc dù Khuất Hương có thể phẫn uất vì những tục lệ trói buộc người phụ nữ, nàng cũng không lưu ý tới việc bị hàng xóm đàm tiếu. Nàng vui vẻ với một số công việc trong nhà và việc tiểu công nghệ. Nàng lại rất thích đọc sách, sách được gởi từ Penang và Bangkok về, ngoài ra nàng còn rất thích đi bộ trong rừng".
"Tình cờ chúng tôi gặp và yêu nhau như một mối duyên tiền định. Tình yêu thình lình, mãnh liệt và thật sâu đậm. Chúng tôi không dám gặp nhau ban ngày, cả hai đều hiểu nếu Tiêu Sung biết được thì sẽ giết chết nàng chứ không thể nào gả cho kẻ thù số một được. Tại 1 tỉnh nhỏ như Taimuong, chẳng có việc gì giữ bí mật lâu được, tiếng đồn lan truyền nhanh chóng như đám cháy rừng và cuối cùng Tiêu Sung cũng biết được".
"Thình lình sự liên lạc giữa tôi và Khuất Hương bị gián đoạn. Người tình báo của tôi cho biết là nàng không ở đâu xa mà bị nhốt ngay tại nhà cha nàng. Đừng hỏi là tôi đau khổ tới chừng nào, tôi trao tiền thưởng xứng đáng cho ai mang đến cho nàng 1 lá thư của tôi hay ngược lại mang cho tôi 1 lá thư của nàng, nhưng không một ai mang cho tôi tin mừng này cả. Một vài người táo gan định thử thời vận, nhưng rồi bị chết 1 cách bí mật mà không ai cắt nghĩa được. Tiêu Sung đã trị vì Taimuang cả vài chục năm nay rồi".
"Trong giai đoạn thù nghịch ngấm ngầm trước kia, Tiêu Sung và tôi cũng gặp nhau trong các buổi tiếp tân nhưng chúng tôi chỉ chào hỏi nhau theo phép lịch sự bề ngoài mà thôi. Bây giờ cuộc chiến công khai đã mở ra, chúng tôi tránh gặp mặt nhau. Tình báo của tôi cho tôi biết mọi đường đi nước bước của Sung và tôi cũng hiểu là mọi hành động của tôi cũng được báo cáo đầy đủ cho Sung. Dĩ nhiên là chúng tôi phải trả giá thật đắt cho người đưa tin".
"Tin tình báo cho tôi biết là Khuất Hương bị cha đánh đập tàn nhẫn và bị nhốt kín trong một căn phòng tối. Tôi đau khổ vô cùng và càng căm hận Sung. Tôi không trở lại sở làm trong một thời gian dài là một đề tài cho mọi người đàm tiếu cũng như đoán mò, cuối cùng một người bạn trong hãng mướn một chiếc đò máy tới đưa tôi về. Khi trở về tới hãng, đêm đó các bạn mở tiệc ăn mừng".
"Thật là 1 bữa tiệc đáng nhớ, thức ăn, rượu đầy bàn, nhưng ngoài ra mỗi người đàn ông lại còn kè theo một thiếu nữ nữa. Một tặng phẩm cho tôi đêm đó là Ngọc Anh, một thiếu nữ Phi có dòng máu lai Bồ Đào Nha".
"Thường thường tôi rất khó ngủ, nhưng đêm nay khi tôi vừa nằm xuống là đã thiếp đi. Có lẽ là quá mệt mỏi trong vài ngày qua. Tôi có cảm tưởng là vừa nằm xuống được vài giây thì có tiếng động ngoài cửa trước. Tôi tỉnh ngủ hẳn".
"Khi tôi mở mắt ra, ánh nắng buổi sáng qua khung cửa chiếu thẳng vào mặt. Ngay ngưỡng cửa, một vật gì đang di chuyển, một hình dáng màu đen. Tôi ngửng cổ lên và dụi mắt để nhìn cho rõ".
"Trời ơi, tôi đang nằm mơ hay sao đây! Tôi có mắc bịnh tâm thần hay không? Đúng là Khuất Hương, không một mảnh vải che thân, làn tóc đen rối bù và ướt nhẹp xõa xuống bờ vai, một sợi dây xích sắt lớn chạy từ mắt cá chân lên vòng quanh bụng nàng".
"Chúng tôi lặng nhìn nhau một lúc, tôi nhìn theo ánh mắt của nàng di chuyển từ mặt tôi sang Ngọc Anhh nằm bên cạnh. Tôi không kịp có phản ứng gì, chỉ quay theo hướng mắt của Khuất Hương. Ngọc Anh nằm ngủ với chiếc khăn hờ hững che nửa người. Tôi có một cảm giác bẽ bàng nôn mửa và kéo chiếc khăn che kín thân hình Ngọc Anh lại".
"Tôi không dám nhìn theo hướng mắt của Khuất Hương nữa, chỉ mong nàng lên tiếng. Đầu óc tôi rối bời, tôi có tội với nàng và giận với chính tôi. Sau cùng tôi không thể im lặng lâu được, tôi ngồi nhỏm dậy".
"Khuất Hương đã đi mất".
"Sau đó, tôi được biết là Khuất Hương đã thú nhận với cha là nàng đã yêu tôi. Nàng cũng nói là mỗi ngày chỉ gặp tôi có vài phút trong rừng nhưng thề là tôi luôn kính trọng nàng, không làm điều gì làm nhục tới danh dự gia đình cả. Thái độ đứng đắn này đã đi ra ngoài sự hiểu biết của Sung. Trong đầu óc của hắn, đàn bà chỉ là 1 công cụ tiêu khiển cho đàn ông mà thôi,và việc hẹn hò vụng trộm như vậy chỉ có 1 mục đích duy nhất mà thôi. Còn việc hắn giữ trong nhà 6 bà vợ lẽ thì sao? Không 1 lý do nào mà hắn tin là tôi cũng là 1 tên đàn ông giống như hắn được. Ngoài ra, tôi còn là kẻ thù, dám đứng lên chống lại hắn. Đứa con gái độc nhất của hắn đã phản bội hắn".
"Cơn giận dữ đã làm mờ mắt Sung. Vớ lấy thanh củi to lớn, Sung ném thẳng vào đầu Khuất Hương, nàng tránh được nhưng thanh củi đập vào vai. Sau đó hắn đánh nàng 1 trận thừa sống thiếu chết. Những lời chửi mắng đứa con gái nhỏ của Sung còn làm nàng đau đớn hơn cả cơn đau thể xác".
"Việc đánh đập tàn nhẫn đứa con gái mỗi ngày khiến cho hàng xóm phải lưu tâm. Khi không chịu được cơn đau, Khuất Hương chỉ rên rỉ chứ không bao giờ xin cha tha tội. Khi Sung hơi nguôi cơn giận, nàng cố gắng đứng dậy nói với cha":
"Con đã nói với cha là con vô tội nhưng cha không chịu tin. Cha chửi mắng và đánh đập con. Vậy thì bây giờ con sẽ đi gặp Tuấn Anh va hiến trinh tiết cho chàng".
"Mọi người đều biết là khi Khuất Hương đã nói điều gì thì nàng sẽ làm được. Trong gia đình người Tàu, người cha bao giờ cũng là chủ gia đình. Trong nhà Sung còn hơn thế nữa, uy quyền của hắn tuyệt đối. Hắn báo cho mọi người, từ các bà vợ, con trai, tới các người làm biết là sẽ đánh chết người nào để cho Khuất Hương trốn thoát, vì vậy lúc đầu nàng rất khó đi ra khỏi nhà. Vừa bước chân đi là có người kéo trở lại và đi báo cho Sung liền, nàng lại chịu 1 trận đòn thù tàn nhẫn tới tấp lên mình".
"Mặc dù phải chịu đựng những hình phạt khủng khiếp, nàng vẫn không bỏ cuộc. Tức điên lên vì đứa con gái cứng đầu, Sung ra lệnh xích nàng vào cửa phòng ngủ. Mỗi đêm được tháo ra khỏi cửa, chỉ xích quanh mắt cá chân thôi. Dù có sợi dây xích quanh mắt cá, nàng cũng cố trốn ra khỏi nhà. Sung biết được nên ra lịnh cho 1 bà vợ lẽ mỗi đêm lột hết quần áo của nàng ra. Với phương pháp này, Sung tự hài lòng là đã vượt qua được tất cả các chướng ngại, ngay cả đối vói đứa con gái độc nhất. Hắn tự hứa là hắn sẽ không bao giờ yếu lòng dù phải hy sinh cả đối với đứa con ruột".
"Nhưng 1 buổi sáng kia, khi mở cửa phòng thì Sung thấy Khuất Hương biến mất. Tấm kính trên nóc nhà bị gạt sang 1 bên, đứa con gái thông minh đã dùng khăn giường làm dây để leo lên nóc nhà. Sung ngủ trong phòng bên cạnh, nghĩ sẽ nghe được mọi động tĩnh trong phòng của con gái".
"Khuất Hương đã cuốn dây xích sắt chặt ngang bụng để cho nó không phát ra tiếng động rồi trèo lên nóc tủ rồi đu mình lên nóc nhà. Có lẽ nàng phải dùng ngón chân đẩy tấm kính sang một bên rồi từ đó mới lòn mình qua lỗ hổng để thoát ra ngoài được. Nàng là 1 thiếu nữ trẻ, mạnh và với việc thoát ra khỏi nhà bằng cách này thì chẳng khó khăn gì".
"Nhưng làm sao nàng tìm tới nhà tôi, làm sao nàng thoát khỏi bầy cá sấu hung dữ? Không ai có thể trả lời được thắc mắt này. Khuất Hương đã hiện ra trước cửa nhà tôi, cánh cửa còn mở khiến tôi không thể cho là một giấc mơ được. Tôi nhảy ra khỏi giường và chạy vội ra hàng hiên nhưng chẳng thấy bóng dáng nàng đâu. Tôi gào thét gọi tên nàng, tôi chạy tơi chạy lui từ nhà ra ven sông cho tới khi mặt trời lên cao, tôi nghĩ là nàng trốn quanh quẩn đâu đây".
"Tôi chạy tới khu lao công ở và tụ tập 1 số người, phân tán họ đi dọc theo bờ sông để tìm nàng. Suốt cả ngày hôm đó, chúng tôi đi lại suốt giòng sông cho tới khi trời tối mịt, chúng tôi chẳng thấy 1 dấu vết gì".
"Không cần phải trở về nhà, tôi đã quyết định trở lại Taimuang. Chí đã quyết, nếu cần tôi sẽ quỳ gối trước Tiêu Sung chỉ để nghe hắn nói Khuất Hương đã trở về nhà bình yên. Nhưng khi trở lại Taimuang, tôi được người đưa tin cho hay là Khuất Hương không có ở nhà. Không ngần ngại, tôi đến thẳng nhà nàng, tôi nghĩ là mặc dù chúng tôi không ưa nhau nhưng cả hai đều thương yêu nàng. Nhưng tôi đã lầm".
"Tiêu Sung nhìn thấy tôi thì cười lớn, nói với tôi là ví du. Khuất Hương không biết xấu hổ mà trở về nhà, hắn sẽ đánh cho tới chết rồi sẽ gởi chiếc quan tài và thi thể của nàng đến cho tôi".
"Tôi mệt mỏi trở về nhà. Ngày hôm sau tôi tụ tập 30 người để lập thành 1 toán đi tìm nàng. Tôi chia họ ra làm hai đội và ra lịnh họ đi dọc theo hai bên bờ sông. Tôi biết là nàng chỉ có thể băng qua sông ở khúc sông hẹp mà thôi. Chúng tôi bắt đầu tìm nàng từ lúc 9 giờ sáng, tôi ngồi trên một chiếc thuyền chèo ngược giòng sông. Suốt 24 giờ qua, tôi đã đi hoặc chạy không lúc nào nghỉ mà không ăn hoặc uống chút gì, tôi cũng chẳng còn nhớ gì cả, người tôi rã rời. Thình lình mũi thuyền đâm chúi vào bờ. Tôi hỏi ngườì chỉ huy thuyền là việc gì xảy ra. Không trả lời, hắn ta chỉ vào vật gì ở xa xa..."
- Ông có biết là cá sấu ăn thịt người ra sao không?
Tôi lắc đầu.
- Mặc cho con sấu lớn chừng nào, nó không thể nuốt chọn cả một thân người. Dù cho miệng nó to cũng không thể cắn người ta ra thành từng miếng nhỏ và chân nó quá ngắn để có thể xé con mồi ra được. Vì vậy nó phải kéo nạn nhân vào bờ. Miệng ngậm thật chặt rồi đập nạn nhân vào thân cây, nó sẽ ăn phần nào tung ra, ăn từng phần một, hết rồi lại tiếp tục đập xác nạn nhânvào thân cây cho tới khi toàn thân bị xé nát và ăn hết.
Tới đây, Tuấn Anh ngưng lại, mắt lơ đãng nhìn vào nơi nào đó, chìm đắm vào cõi u minh của thương nhớ và sự sợ hãi mà không ai có thể chia xẻ được. Sự im lặng làm tôi bồn chồn, Tôi lên tiếng:
- Vậy hắn có tìm thấy Khuất Hương không?
Tuấn Anh nói khẽ như thì thầm với chính mình:
- Không, hắn chỉ nhìn thấy một khúc chân người từ gối trở xuống treo lủng lẳng trên cành cây thấp, cẳng còn buộc một chiếc xích sắt. Nhưng về sau tôi chẳng tìm thấy Khuất Hương đâu cả...
Trần Hồng Văn Tác giả: Đây là một chuyện thực xảy ra tại Thái Lan do nhà văn Dhep Mahapaurya viết và được coi là viên ngọc quí của nền văn học Thái. Sau khi truyện được đăng trên báo chí tại Bangkok đã gây phẫn nộ cho quần chúng và đưa đến một vụ kiện. Tôi quen với ông chẳng biết từ bao giờ , gặp ở mall vài lần , những lần tôi có chuyện buồn nhất là gặp ông .
Buồn gia đình , buồn chuyện học hành . Một ngày , chịu không nỗi nữa, tôi lang thang ra mall , đợi mãi không thấy bóng ông đâu , tính quay về thì nhận ra dáng ông trước cửa , bình thản như mọi lần . Tôi mừng quá . Chạy lại , với ông ngồi xuống chiếc ghế ngay gần đó , kể hết . Ngày đó ông dắt tôi lại nhà ông chơi và có ý nếu tôi có nhiều vấn đề quá ,tôi dọn tới ông ở cho đỡ bớt , sau rồi tính .
Tôi chỉ chờ có thế . Giữa cái chốn văn minh này , khôngtin được ai , tôi tin ông thật lạ kỳ . Tôi thoát ly vớilý do không chịu nổi những trận cãi vả với ông anh nữa và đi lập nghiệp .
Từ ngày dọn về với ông , tôi tránh ra đường nhiều , bỏ học , ở nhà cơm nước , dọn dẹp . Mấy ngày đó , lòng tôi thanh thản vô cùng , không bài vở , không phải sống trong căng thẳng bị ông anh giục làm chuyện này chuyện nọ . Tôi vẫn còn cha mẹ , nhưng quá già yếu , anh tôi thay cha mẹ tôi răn dạy , nhưng không có lòng tin , lòng thương yêu nhiều như tôi tưởng mà độc tài vô cùng .
Đời thôi , sống đâu chả sống . Tôi sống thử một mình xem sao .
* Những tối , tôi ra xem ti vi cùng với ông . Căn phòng ông cho tôi trọ không có bàn ghế , giường tủ thêm gì , gần như là phòng trống . Tôi giữ nó sạch như khoảng không gian của riêng mình . Lạ lùng là tôi thích coi show nào là ông lẳng lặng ngồi xem show đó , dần dần , ông và tôi cười chung nụ cười , tiếc chung cái gì đó muốn nữa mà không được .
Có tối chúng tôi coi tivi rất khuya . Cứ đến gần sắp ngủ gục, tôi ý tứ , tự giác đi vào phòng , khóa cửa lại . Tôi vô tư tiếp tục những tháng ngày nhàn hạ . Nấu nướng , dọn dẹp , giặt giũ , không thân , không lạ . Lúc đó trong tôi không bao giờ tự hỏi mình là ai , tại sao mình ở đây Tôi cần một chỗ trú chân , ông cho tôi .
Phải tôi không cần gì khác không , mà còn cái gì khác đâu mà cần chứ .
Một tối tôi vào phòng , quên cài cửa, nghĩ mình đã quen tay cài cửa cẩn thận , tôi làm vậy vì ý tứ chứ không có một sự nghi ngờ nào hết . Đêm đó , những gì giữa hai người khác phái có thể xảy ra đã xảy ra với tôi và ông , không yêu đương , không tình tứ .
Tôi mơ hồ nhận ra mình có một nhu cầu mà bấy lâu nay mình không biết . Ông dường như cũng là người lang bạc , nay đây mai đó , các ngón nghề học đủ , trong vòng tay ông , dù không yêu , những cảm giác thật sự làm cho tôi nghĩ mình đã lọt vào thung lũng hồng của tình yêu hay sao ... , một lần , rồi hai lần , rồi có những tối tôi chờ .
Tôi mất đi tự nhiên với ông , ông cũng có vẻ ngại khi trời sáng , dù trong những đêm tối có lẽ không thấy nhau , tôi và ông ân cần với nhau hơn .
Tôi may mắn không có mang thai từ những lần đó . Đã biết ông là ai đâu , chỉ cái tên , nhà đang sống , ông đi làm và mỗi chiều về khệ nệ mang những thực phẩm tươi sống về cho tôi nấu nướng ...
*
Thời gian trôi đi , tôi dần hiểu giữa tôi và ông không có gì hơn vậy . Tôi dần tin là sau những đam mê thì tôi vẫn là một cái gì xa lạ trước mặt ông . Tôi không dám từ chối những cuộc tiếp xúc vì sợ tôi sẽ không còn chỗ ở . Tôi không dám nói thẳng tôi đã hết cảm giác trong những lần chung đụng nếu không có một cái gì phiá trước thu hút tôi . Tôi sợ . Sợ sẽ không còn ai dung dưỡng tôi , không còn ai cho tôi những khoái cảm ngất ngây như ông đã từng cho dù tôi chẳng yêu thương gì ông hay chỉ đơn thuần là người ân .
Tôi vẫn còn đam mê lắm , nhưng tự tận đáy lòng , tôi sợ chính mình , sợ cái hoan lạc đang tận hưởng nói cho tôi biết tôi không phải người phụ nữ đàng hoàng .
Sống chỉ biết hiện tại , không biết ngày mai . Ông bao nhiêu tuổi , tôi bao nhiêu rồi , cuộc sống cứ thế mà trôi . Cần thì tìm đến nhau , mệt thì buông .
Tôi trao tình , sức khỏe , ông trao tình và tiền bạc . Sự đổi chác đó quá sòng phẳng , tôi đang làm đây nhưng tự tôi , sao tôi đang cảm thấy xa lạ với chính bản thân mình .
Tôi muốn trốn , tôi muốn thoát , thoát ra khỏi cuộc sống này . Mà đi đâu . Tôi còn chỗ để đi không ?
Không nhất định , cuộc sống này tạm bợ lắm , phải rời bỏ thôi ...
Từ trong bóng tối , tiếng ông thở đều trên người tôi sau lúc ân tình . Tôi không khóc , nhưng nhận ra nước mắt đã thấm ướt chiếc áo gối bên dưới .
Trời tối , ông không nhìn thấy hai va li tôi sắp sẳn nơi góc phòng . Da tôi vẫn trần bên da ông .
Rồi mai đây tôi có còn nhớ tới những đêm đen này không ?
Nhớ rồi sao , tôi còn lại gì đâu . Có còn là cái suy nghĩ quyết tâm làm lại cuộc đời mình theo đúng nghĩa của một kẻ tha hương đi tìm tự do và một lẽ sống tốt đẹp hơn nơi mình đã ra đi .
Phải , tôi còn lại gì không ? Vành Khuyên - Tên chị là gì? - Thưa em tên Mợ - Mơ gì? Mộng mơ hay quả mở - Tùy, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu... - Quê quán ở đâu vậy? - Em ở Thạch Thất, Hà Tây. - Chị công tác ở cơ quan nào? - Thưa, ở ty Văn Hóa Thông Tin Hà Sơn Bình. - Chắc chưa vào đảng...? - Vâng, em mới phấn đấu ở cương vị đoàn... - Chị lập gia đình chưa? - Em chưa lập, nhưng đối tượng thì có rồi! - Các cụ nhà ta còn cả chứ? - Vâng, thầy u em vẫn còn. - Gia đình được mấy anh chị em nhỉ? - Thưa, được tám cả thảy... - ... Một bản sơ yếu lý lịch? Một cuộc hỏi cung ngắn? Tôi thò đầu ra khỏi gầm ghế, hé mắt nhìn về cuối toa xe lửa. Cửa vẫn còn mở có nghĩa là đội công an, thuế vụ trên tàu chưa làm việc, nếu không họ đã đóng chặt hai đầu toa cho hành khách không có đường đi lại hoặc tẩu tán hàng hóa.
- Chị đi đâu mà hành lý cồng kềnh thế này? - ...
Bỏ mẹ rồi, đội kiểm tra cơ động đặc biệt! Tôi rụt đầu vào gầm ghế, cay đắng lo cho số phận hai bịch thuốc lá sợi của mình. Hôm nay thứ sáu, nhưng 15 tây, 8 âm lịch: ngày lành. Tử vi tôi tháng này không xung với tuổi, trong năm không có sao Địa Không, Địa Kiếp ghé thăm để mà lãnh tai họa, trộm cắp.
Chuyến tàu khởi hành chậm hai tiếng đồng hô như lệ thường. Nếu chả may nó chạy đúng giờ thì người ta còn coi như báo trước một điềm gở... Khổ quá, tôi đã tham lam đóng hết hàng, chỉ chừa lại số tiền vừa đủ ăn đường và nộp hụi chết cho cánh công an thuế vụ thường trực trên tàu, đám đột xuất này mà sờ đến thì chỉ còn nước bỏ của chạy lấy người.
Tàu lắc lư chạy trong đêm. Hành khách ba miền của bao nhiêu âm ngữ đã đồng tiếng ngáy. Ngay sát mặt tôi, dưới gầm ghế là hai bàn chân giao chỉ với ngón cái xòe ra, dính đầy bùn đất của anh nông dân vừa lên vất hai bao sắn qua cửa sổ. Trên ghế đối diện, thuộc về giai cấp khác, mấy ông cán bộ đi công tác với cặp táp, điếu cày đang ép nhau ngồi. Thỉnh thoảng, những khi tàu lắc mạnh, các vị lại xón cho giai cấp dưới cùng tí nước điếu. Hai con bé con tóc khét nằng, áo bà ba đen, quần đùi, đang ôm lấy bao than củi ngủ, chả hay biết nước thánh cam lồ chảy tong tỏng trên lưng mình. Trên đâu tất cả là mấy ông con trời bộ đội đang nhịp nhàng kẽo kẹt thượng tọa trong võng. Chú lính treo gần tôi nhất đầu ngoẹo ra khỏi võng ngủ, môi trề ra, nước dãi nhểu nhảo chảy xuống bụng chị có con mọn đang tốc áo cho con bú ngáy khò khò trên ghế.
Trời ơi, muốn ra được cũng thật khó, tôi gồng sức đẩy hai bàn chân chắn ngang mặt mình mà không được. Sau mỗi cố gắng, anh nông dân lại cho tôi một cái đạp hoa cả mắt. Đau vì bị đạp thì ít, mà ức vì bị đèn nén thì nhiều, tôi nghiệm thấy, quy luật đấu tranh của xã hội cũng đúng cả dưới gầm ghế này. Nhưng thôi, tất cả đều đã mệt, cần được ngủ để có sức chiến đấu cho lúc xuống tàu.
Tỏng tỏng... róc rách... Tàu chạy vào khúc xuôi gió thì vẳng lên tiếng nước chảy, rồi âm ấm ở đầu. Nghiến răng chịu cho cái chân ghế cứa vào cổ, tôi ngỏng đầu lên để nhìn. Trời đất, suối nguồn thiên thai được bắ't từ cái cần câu cong vút của thằng bé đang nằm nghiêng trên ghế ngậm ti mẹ. Xung quanh không ai để ý.
Tôi rút tay, vuốt vuốt tóc rồi đưa lên mũi ngửi. Cũng may, trẻ nhỏ nó chưa ăn mặn nên tè ra không khai lắm, chứ như cái mùi thường trực bốc lên từ cầu tiêu đầu toa thì bỏ mẹ. Hành khách đi xe lửa Thống Nhất chả bao giờ bị cảm mạo, trúng gió cũng là nhờ cái mùi này chủng ngừa trước.
- Chị có tranh thủ mang ít hàng để cải thiện không ?
- ...
Cái giọng lấy cung kia lại quái ác nổi lên, tôi đã tỉnh ngủ, nghe rất gần, ngay khoang bên cạnh. Khổ nổi không làm sao chui người ra đuợc để còn biết đường mà chuồn. Thôi thì trăm sự đành cậy nhờ cây đèn bão tù mù này. Giá có ngọn gió nào thổi tắt nó đi thì đỡ biết mấy.
Lúc vừa nhảy lên tàu tôi đã chọn ngay cái toa toàn các khuôn mặt hao hao đói của cán bộ, ngô nghê chất phác của nông dân này để trao thân. Tôi định mập mờ đánh lận con đen giữa đám người lương thiện hòng trốn tránh các toán kiểm tra bất ngờ. Tôi đã mừng rơn khi những "thành phần cơ bản", chủ nhân của toa tàu giương cặp mắt tò mò, đố kỵ, sợ bóng sợ gió nhìn mấy bà "ngụy" đi thăm nuôi chồng con cải tạo ở miền Bắc về rồi từ chối không cho họ ngồi ké.
Tuy đã đuợc thực tế phũ phàng của những trại tù, cuộc sống đầy tương lai của miền Bắc XHCN nhuộm xanh lè cả mặt, nhưng mớ áo quần bằng vải tốt, đống guốc dép, đầu tóc khác lạ, nhất là thói quen nhìn lại chỗ ngồi, phủi phủi vài cái rồi mới e dè đặt mông xuống của mấy bà khiến cho hai miền không thể lại gần nhau được. Tôi tiếc rẻ vận cổ nhìn tiễn theo mấy cái gót chân thon nhỏ, dính chút bùn đi tìm bến đậu khác.
Nhưng đời là một cuộc chiến đấu lớn, phải biết tiêu diệt những tình cảm phù phiếm trong mình để đi tới đích. Than ôi, những hy sinh lẻ tẻ đó cũng không cứu được hai bao hàng, đám con chiên hiền lành kia cũng không giúp tôi được chút gì, cái mánh mung của tôi đã hại tôi, chuyến này thì tiền mất tật mang rồi. Không còn cách nào hơn, tôi đành dọn mình, chuẩn bị đón tai họa sắp tới. Trong bóng tối, dưới gầm ghế, bên cạnh hai bàn chân chỉ chực đạp vào mặt với mùi khai của nước tiểu, tôi chợt nhớ đến bài hát của Trịnh Công Sơn "Nơi đây tôi chờ... nơi kia anh chờ... " để được ngồi trên "...chuyến xe qua ba miền...". Phải rồi, bên đây tôi nằm, bên kia em nằm, cũng chuyến xe qua ba miền. Cái bậc nghệ sĩ họ thật giàu tưởng tượng và lãng mạn.
- Rụt chân lại !
Tôi hét to, cấu mạnh vào chân anh nông dân. Một cái đạp tương xứng với cái cấu tung vào mặt tôi nhanh nhạy như phản xạ co giật của con ếch khi bị truyền điện. Anh ta cằn nhằn trong miệng rồi tiếp tục ngáy.
- Xê ra cho người ta đi... tiểu !
Không dám cấu nữa, tôi chỉ biết, cũng cốt ý cho đám công an bên cạnh nghe thấy để hợp pháp hóa việc bỏ đi của mình. May làm sao anh chàng nông dân trở mình đổi thế nằm, hai hòn đá chắn cửa hang rụt lại, tôi vội nhoài người ra, đứng dậy leo trèo qua đống thịt ngổn ngang nằm kín lối đi để ra ngoài. Đứng trong cầu tiêu một lúc cho vừa đủ thời gian tiểu tiện, tôi hé cửa nhìn ra. Toa tàu hoàn toàn yên tĩnh, chỉ có gió lùa ở hai bên cửa sổ, tiếng bánh sắt nghiến xuống đường rầy.
Quái lạ, công an biến đâu hết rồi ? Đánh bạo, tôi mò lại gần. Hai bên thành toa võng giăng kín thành hàng, đưa đẩy. Hành khách trên ghế gật gù ngủ. Chả có bóng áo vàng nào hết! Tôi nằm mơ chăng ? Rất có thể vì dân chạy hàng bọn tôi suốt ngày đêm bị rình rập, phải đề phòng, trốn chạy nên riết rồi méo mó nghề nghiệp, nó theo cả vào giấc ngủ. Cứ sống với cái nghề này có ngày vỡ tim mà chết. Tôi đứng tựa lưng vào thành ghế, định thần lại. Chị có con mọn đã ngã choãi lên người tay thiếu úy trẻ để ngủ, vú vê bày thõng thượt. Đứa con lọt vào kẽ nách mẹ, ngỏng cổ mân mê cái đầu tí.
Chả biết họ có chồng vợ gì không, nom chị ta vẫn còn trẻ, già độ hai ba năm về trước có ai động đến tí của "trời cho" đó sẽ bị nhảy lên đùng đùng tru tréo chửi. Người thứ tư trên ghế, một ông cụ già râu tóc lưa thưa, nghiêng người cho đủ chỗ ngồi, tay bám với lên thành ghế, đầu cúi gục xuống gần ngực chị có con mọn gật gù ngủ. Bao nhiêu mật ngọt lòng thòng rỉ từ miệng chú lính trên võng, cái đầu ông hứng hết. Ba ông cán bộ tóc điểm muối tiêu, áo sơ mi trắng cọc tay, khư khư ôm cặp táp trong lòng đang nhịp nhàng lắc lư trên ghế đối diện. Ngay trong giấc ngủ họ cũng có cái vẻ "nhất trí" như khi làm việc.
Tàu sắp đến ga Nha Trang, vùng đất bão lửa đối với dân buôn chuyến. Chỉ còn một ngày đường nữa những sứ giả nguyên thủy của CNXH sẽ đổ bộ vào Saigon, thành phố đang trên đường cải tạo để trở về với miền Bắc, với CNXH. Tôi cúi xuống nhìn vào gầm ghế. Hai bao hàng vẫn ngủ yên trong đó. Cái bào thai đã đi được chín tháng chín ngày. Cầu trời cho nó được mẹ tròn con vuông. Khoang bên cạnh cũng toàn các khuôn mặt trong biên chế, những lá bùa dán đè lên bản mặt "bất chính" của tôi. Đừng rẻ xuống ga lẻ dọc đường, bỏ tôi côi cút một mình nhé, hỡi các bạn yêu dấu.
Tôi sẽ chi viện cho miền Nam ruột thịt ít sợi thuốc lá vàng, do chính tay vợ con các bạn trồng. Những ông ba tàu chợ lớn với kỹ nghệ làm giả tuyệt hảo, hơn hẳn nền đại công nghiệp XHCN sẽ vấn thành những điếu thuốc CAPSTAN thẳng thớm, đẹp đẽ trong hộp carton giấy bóng kính để các bạn trầm tư, đắn đo, quyết định tốn kém, mang ngược về miền Bắc làm quà cho anh em bè bạn.
Một cặp trai gái vẫn còn thức, họ ngồi nép vào nhau, thỉnh thoảng trao đổi những cái nhìn. Gã trai với cây đàn ghi ta treo trên đầu, tóc dợn sóng, có dáng dấp của một vĩ nhân tỉnh lẻ, ông chủ hiệu may, hiệu chụp ảnh, một bậc văn hóa lớn ở phố huyện ( ?) không ; gã có vẻ là anh đội trưởng đội chiếu bóng huyện hơn là những vị kinh doanh thẩm mỹ vì cái kính râm nội hóa cài khéo ở ngực, áo sơ mi trắng loại vải không pha ny lông, quần kaki xanh mua phân phối, ở cổ tay thiếu cái đồng hồ. Cô gái ngồi bên cạnh tuổi chừng đôi mươi, tóc dài, hoe màu nắng cháy. Khi cô ngước mặt lên nhìn tôi thì trời đất ơi, một trang tuyệt sắc giai nhân. Đôi mắt có đuôi, mở lớn hiêng hiếng xếch đang cười lăn tăn. Mũi cô thon nhỏ, thường tìm thấy nơi tượng Đức Mẹ hoặc trong hình thiếu nữ e lệ in trên băng, đĩa vọng cổ. Cặp môi cũng chúm chím cười như mắt, phơn phớt hồng, nổi trên miền da trắng. Những đường nét, màu sắc đó được ướp trong vẻ hồn nhiên tươi tắn của cô gái mới mập mờ linh cảm về nhan sắc của mình. Toa tàu như tỏa mát hương sen, tôi ngó vội xuống quần áo của mình, lúng túng dấu mấy ngón tay dắt kín đất đen ở kẽ móng. Trong phút chốc tôi quên bẵng hai bịch thuốc lá, mũi tôi điếc với mùi khai, mắt tôi mù với thân thể nếu được phơi bày ra hết sẽ diệt dục trai tráng của thiếu phụ có con mọn bên cạnh, tôi ngây người như đười ươi giữ ống chiêm ngưỡng cô gái. Gã trai cảm thấy bị hao mòn mất mát bởi đống tình si chảy nhão nhoẹt trước mắt mình bèn đưa tay kéo cái vạt áo hở của cô gái, ra điều hoa đã có chủ. Gạt nhẹ tay gã ra, cô sửa lại thế ngồi rồi thẹn thò liếc tôi. Gã trai húng hắng họ
Như để chạy đua vũ trang với tôi, khẳng định với cô gái, gã xoay hẳn người lại, cặp mắt nhừa nhựa la liếm lần trên gò má hồng, bò quanh miệng, rồi chui xuống cổ cô. Cảm thấy gã sắp trườn vào lòng người đẹp đến nơi, tôi "e hèm" đánh tiếng, quay mặt đi chỗ khác. Sự buồn giận vô cớ chợt xâm chiếm lòng tôi. Hương hoa thế kia dãi gió dầm mưa làm chi trên chuyến tàu này. Vẻ đẹp mong manh bên cạnh sự lố bịch. Vâng, người là hoa của đất, là bà chúa của thiên nhiên, bao nhiêu cuộc đời mới dâng hiến một khuôn mặt đẹp, cũng chỉ đẹp trong tích tắc, một lần phát hương rồi trơ mình ra cho cuộc sống chìa hàm răng vẫu thô lậu nghiền nát. Chỉ sau lời tuyên bố ngắn ngủi của đồng chí chủ tịch xã kiêm chủ hôn, sau ba năm sống không có ca nhạc, ti vi chiếu bóng đêm, người đẹp ngồi kia sẽ biến thành cái máy đẻ, con đường đi đến thiếu phụ sau lưng tôi sao mà gần. Quần xanh, áo trắng mới tinh khôi, tôi nổi giận với cả sự ăn diện của cô gái. Ở xã hội này mỗi khi muốn chứng tỏ "Tôi đi chơi ", "Tôi làm đẹp ", người ta không có chọn lựa nào khác ngoài màu trắng để tách mình ra khỏi màu nâu lam lũ với đất, màu tím than đánh lẫn với dầu máy, màu áo lính nhuộm xanh cả đất nước. Từ đồng chí Tổng Bí Thư trên diễn đàn đại hội đảng, chú cai ngục hỏa lò Hà nội hai tay đút túi quần bước vào quán phở, cho đến cặp trai gái đi dạo quanh hồ Hoàn Kiếm, ai ai cũng chỉ một màu áo trắng. Cái màu trắng đẹp đẽ thanh khiết bị lạm dụng, bị cưỡng hiếp trở nên nhàm chán, làm nhòe nhoẹt các khuôn mắt đời vốn đa dạng, biến nó thành một thứ đồng phục ngớ ngẩn.
- Mặt mũi không đến nỗi nào mà ăn mặc bẩn thỉu như mọi rợ...
Gã trai thì thầm với cô gái. Cô ngước mắt nhìn tôi. Họ cùng cười với nhau.
- Chị đã mệt chưa ? Cứ ngả lên người tôi mà nghỉ... ?
Gã đề nghị, ngồi lấn vào cụ già đang ôm cái tay nải bên cạnh để nhường chỗ. Tôi ngờ ngợ, dỏng tai chờ đợi.
- Không. Cảm ơn anh em còn ngồi được.
Cái giọng "lấy cung" khi nãy ? Tôi nhìn chăm chăm vào mặt họ. Cô gái ngượng ngùng quay mặt đi chỗ khác. Gã trai nghĩ tôi là chướng ngại cản trở dịp may chờ đợi đã lâu nên lừ mắt hằn hộc xua đuổi. Thấy địch thủ vẫn không nhụt chí, chả cần bóng gió xa xôi, gã ném thẳng vào mặt tôi câu chửi :
- Chỉ có đồ vô văn hóa mới thò mõm vào việc người khác!
Thôi đúng rồi, chả có Công An nào hết, tôi cũng không nằm mơ, cũng không có ma quỉ gì quấy phá, anh bạn trẻ ngồi trước mặt chính là tác giả bản "hỏi cung" khi nãy. Tôi sờ lên túi áo ngực. Trong cuốn chứng minh thư (cũ) của Công An cấp, ngoài tên tuổi, địa chỉ, quê quán, đã can án lần nào chưa, còn những mục về cha mẹ, vợ con, còn sống hay đã chết... Tôi nhớ đến những lúc mới làm quen, người ta cũng hỏi và trả lời đầy đủ những điều cần thiết trong một bản sơ yếu lý lịch. Hỏi như một thói quen, nhiều khi chả để làm gì và sau đó ai đi đường nấy. Thói quen méo mó đó ngấm sang cả địa hạt yêu đương.
"Nơi em về trời xanh không em... " Bên này vĩ tuyến 17 không có một câu hỏi thơ mộng, lãng mạn như vậy, còn các Vũ Hoàng Chương, Khái Hưng, Hàn Mặc Tử... đã bị đánh bật rễ khỏi người đọc, gom lại trong cái nghĩa địa văn hóa cổ, le lói trong ký ức người già. Các tay "yêu" lừng lẫy một thời vẫn còn đấy, nhưng đã biến thành Xuân Diệu Xuân Xang Xuân... Tóc đỏ.
Người ta đã tiêu thổ kháng chiến đến cả yêu đương. Nói đến "yêu" cũng phạm húy, phải gọi là "tìm hiểu", người yêu là "đối tượng tình cảm" (đối tượng đoàn, đối tượng đảng, đối tượng của pháp luật ). Hôn nhân được xây hào đắp lũy thành "lập gia đình". Chữ "chàng" và "nàng" được cách mạng hóa thành những chữ "anh", những chữ "chị", những "gã", những "hắn" trong văn học hiện hành. Người ta lập pháp hóa cả tình yêu, vớ vẩn có thể bị qui là "quan hệ bất chính", "tác phong thiếu lành mạnh". Đa sầu đa cảm, yêu lăn yêu lóc cả trong nhạc lẫn ngoài đời như ông Phạm Duy dám đi cải tạo không có ngay về.
Tình yêu không được thi ca ấp ủ, dẫn dắt, hướng thượng, thè lè đi ngoài đường trong những dịp quốc khánh, hội hè đông người để sờ mó, gỡ gạc lẫn nhau, "hủ hóa" với nhau trong nhà kho công sở, hoặc nếu đúng đắn nghiêm chỉnh hơn thì đặt ra tiêu chuẩn "3B" (Bôn sê vích, buồng ở, bia cung cấp) để "tìm hiểu". Vì vậy những lời yêu đương được mở đầu bằng "Đồng chí công tác ở cơ quan nào ?..."
Tôi cười rú lên giữa toa tàu. Gã trai giật mình rụt vội bàn tay có mắt về. Một vài hành khách luống tuổi tỉnh giấc, khó chịu nhìn thằng điên đang sắp ngửa leo qua đống người nằm giữa lối đi để ra ngoài. Ông bạn trẻ cay cú tiễn với theo...
- Thật đúng là đồ quái dị!
*
Chuyến tàu đó đã dừng lại ở VN . Hai năm sau, trên chuyến tàu ở xứ tị nạn, tôi lủi thủi đi lại một mình giữa toa tàu trống vắng. Lác đác vài cặp mắt xanh sợ gió máy đóng kín cửa sổ, khụt khịt mũi nhìn con người dị hợm cuồng cẳng. Không được chen chúc, hằm hè chửi bới nhau, không sợ cảnh sát bằng mấy con chó cảnh chạy lăng xăng bên cạnh mấy bà già, buồn, tôi lẩn thẩn ước lượng số ghế trống rồi nao lòng nhớ về những anh em bè bạn ở quê nhà. Xót xa với máu mủ mình chưa hết, tôi còn thương lấy cả cái ngành hỏa xa của xứ người. Làm ăn như thế này thì lỗ chết. Tôi quên béng đi mất, rằng tiền vé chém rất nặng, cuốc đường ngắn như thế này nếu gửi quà về VN thì "chúng nó" lai rai quán cóc cả tháng trời. Tôi nhớ về bên nhà như một kẻ thiếu nợ.
Con thú hoang dã đã được thuần giống bằng trợ cấp thất nghiệp (cho mày đủ ăn để tự giam mình trong chuồng, đừng có nhìn sang túi khác). Tôi đã "quên" chưa trả lời gần chục cái thư, thư nào cũng giống nhau một điểm là ngắn (đỡ tiền tem). Chữ nghĩa tiết kiệm rồi, lại còn bóng gió xa xôi, nhưng cái bóng gió xa xôi tài tình đến độ lồ lộ hiện ra khuôn mặt dài ngoẳng vì đói vì chờ của ông bạn. Trước khi đi, tôi đã dại dột bốc đồng "Tụi mày yên tâm đi, tao mà..." Cái "tao mà..." ấy cho đến giờ này cũng chỉ tiến thêm được một bước thành "tao sẽ..." nhưng tôi cũng không ân hận là đã cho họ ăn bánh thánh. Có vị bác sĩ nào đủ can đả m nói với người bệnh đang hấp hối của mình "Xin thưa, tôi bất lực, tôi không có thuốc...?"
Những con tin của lương tâm ở bên nhà hiện đang sống bằng hy vọng. Tôi lừa họ chưa đủ, họ còn phải tự lừa mình nữa thì mới sống nỗi. Méo mặt trả xong tiền tem, cầm bằng mua xấp vé số, họ xoa tay yên tâm chờ đợi. Nhưng mấy chục cái đơn xin việc của tôi mất hút không về, sổ vẫn chưa mở, lại tiếp tục "quên".
Xuống tàu phải mua ngay mấy tấm vé số! Tôi hạ quyết tâm cho lòng yên ổn (lại tự lừa mình?) để còn nghĩ sang chuyện khác. Đúng lúc đó thì có tiếng "hèm" sau lưng. Lại một cụ ông, cụ bà bản xứ với những câu hỏi đầy bác ái như cho kẹo trẻ con về cảnh ngộ, sự hội nhập, phong cảnh quê hương? Tôi gắn vội nụ cười ba phải lên môi, chuẩn bị sẳn mấy câu thuộc lòng để trả lời.
- Xin lỗi, anh là người VN ?
Trời ơi tiếng Việt! Tôi quay phắt lại ngó sững người bắt chuyện.
- ...
- Xin lỗi ông tôi lầm lẫn...
Người đàn ông tuổi trạc bốn mươi, mắt sáng, ăn mặc buông thả lúng túng xin lỗi bằng tiếng bản xứ, vẻ mặt đầy thắc mắc. Tôi hiểu ngay sự thắc mắc đó. Người Việt gặp gỡ tình cờ ở ngoài đường ít khi nhìn nhận nhau vì họ không nói được tiếng Việt.
- Không, tôi là người Việt!
Tôi vội vã xác quyết.
- Anh đi từ miền Bắc?
Người đàn ông vồ vập. Tôi cũng nhận ra ngay cái giọng Bắc toang toác của ông tạ
- Dân tỉnh nào đấy?
- Hà Nội đây!
- Đây cũng Hà Nội!
Khỏi cần nói về nỗi mừng. Chúng tôi xoắn xuýt ôm lấy nhau mà hỏi chuyện. Chuyện bên nhà, chuyện đi đứng, chuyện ổn định đời sống bên này... Khi đã cạn những vấn đề thời sự (miếng trầu của đầu câu chuyện) trong tiếng xe xé gió, chúng tôi ôn lại những ngày tháng xa xưa của Hà Nội. Như hai anh lính trẻ đi giữa Saigon, cái phố huyện hẻo lánh giáp vùng thượng du Bắc Bộ của họ là nhất thì Hà Nội đối với chúng tôi là vô địch.
Bát phở Quyền ở ngã tư Phú Nhuận (té ra anh cũng đã nếm) thịt thà hùng hậu, nước độc đáo thật, nhưng độc đáo trên cái nền nhòe nhoẹt đánh lẫn với nước hủ tiếu ở Saigon, không "ác ôn" bằng phở Thìn đối diện đền Ngọc Sơn ngoài Hà Nội.
- Cậu thử tưởng tượng xem, về khuya đi ngược gió đông, cách cả trăm thước mà cái thằng phù thủy ấy nó dở nắp thùng phở lên có sởn gai ốc không hả...? Trong túi không có tiền thì bỏ mẹ!
Tôi cảm thấy hơi phở nóng phả ra từ mặt anh nên gật gù.
- Thế mới là phở chứ những chỗ cậu kể đi sắp ngã vào nồi cũng không hay, bát phở bưng đến trước mặt, mở mắt ra mới biết thì còn gì là phở?
Sau khi đi một vòng các hàng quà Hà Nội, anh dắt tôi đến quán cà phê. Cà phê Hà Nội cũng lại nhất. Anh kể ra tên mấy cái quán ít ỏi của đất Thăng Long với từng "gu" của nó. Quán "Moka" phố Bùi Thị Xuân có cô con gái đẹp như Kiều, nhưng không át được mùi thôm của cà phê ông bố. Quán "Nhỉ" phố Hàng Cá đậm đà chút nước mắ'm nhỉ (nên mới gọi là ông Nhỉ). Quán "Nhân" đầu Hàng Gai có hương vị huyền ảo khó tả, người không biết, tưởng ông đánh thuốc phiện khách... Anh thừa nhận không gì sánh nổi hạt cà phê Ban Mê Thuột, nhưng Saigon có vẻ chưa để ý đến nghệ thuật pha trộn. Cà phê nó có nhiều loại. Vối cho vị chát, mít cho vị chua, và chè cho vị đắng. Nếu nhiều chè một chút, tí vối, tí mít thì thành gu " Moka", hoặc đổi lại thì thành Nhân thành Nhỉ... Rốt cục tròn trịa, óng ả, no đủ như hạt cà phê Ban Mê Thuột chỉ cho được mùi thôm choáng ngợp khi mở nắp phin. Hết!
- Nhưng hình như các ông Nhân, Nhỉ, Moka bây giờ pha hơi nhiều muồng muồng trong đó thì phải...?
Tôi rụt rè phát biểu. Anh xìu người, gãi đầu rồi cười. Dù sao cũng phải công nhận anh là bậc thượng tọa trong cái đạo ăn uống này.
Hết chuyện ẩm thực, chúng tôi xoay sang chuyện người đẹp. Trong địa hạt này anh không dám cục bộ địa phương nữa vì biết tôi cũng đã chui qua cái xã hội lấy chiêu bài "bình đẳng, giải phóng" để đẩy người phụ nữ xuống bùn, chui rúc trong hầm mỏ, lẫn lộn ngoài chiến trường như nam giới. Bên cạnh đó là hệ thống tuyên truyền đồ sộ, ăn ý như dàn nhạc giao hưởng luôn gõ trống thúc dục cho bắp thịt nở nang của phái yếu trong bức tranh "ai nhanh tay cuốc bằng tay em..." trong nhịp nhạc "niềm vui cô gái mở đường Trường Sơn" trong văn học.
Gái Bắc Hà đã bị déformée biến dạng thành cái vai nở, thân hình trùng trục vì lao động nặng.
- Cứ nhìn thấy gái Saigon là tớ nghĩ đến chuyện ly dị...
Anh đốt điếu thuốc, phả khói lên trần toa lim dim mắt cười. Tôi nói đến gái Cần Thơ, Vĩnh Long, đất gạo trắng nước trong da thịt mơn mởn như xoài. Anh kể về mấy chi. Huế nhu mì e ấp dưới mái tóc thề, ẩn dật kín đáo với làn da trắng xanh, nhưng con mắt thì đi nhiều hơn chân, làm nhiều hơn tay, nói nhiều hơn miệng, quả tim như núi lửa chỉ chực bất tử phun nham thạch.
- Ờ lạ thật... Saigon là đất tứ xứ, nhưng bất cứ người ở đâu hễ nhập vào nó ba bốn năm là thay da đổi thịt, biến thành dân Saigon. Đâu như Hà Nội mình, anh từ Hải Phòng lên, sống cả hai chục năm, đẻ con ra vẫn lơ lớ giọng nước lợ, tính tình tềnh toàng của dân thành phố cảng. Chị ở chiến khu về, sống đến mấy đời hộ khẩu vẫn không tẩy được cái cách nhấm nước bọt đếm tiền. Sức cảm hóa, khả năng hội nhập ở Saigon nó khác...
Tôi lấy Huế để giải thích hiện tượng đó cho anh.
Nếu chính anh có dời cư về đó ở, không phải hai chục năm mà bốn-sáu chục năm, cho đến chết, chất Huế cũng không thắm vào anh được. Vùng đất nào đã được chọn làm kinh đô trên một thế kỷ tự nó sẽ tạo nên bản sắc riêng biệt cho mình, hội nhập sẽ rất khó...
Chúng tôi cãi nhau như mổ bò (dấu hiệu đã thân thiện) về những vấn đề cả hai đều không nắm vững, hoặc chả có gì đối nghịch nhau. Để đừng đập vào đầu nhau trong lần gặp gỡ đầu, tôi lái câu chuyện trở về người đẹp Hà Nội. Thế là lại một màn truy tìm các bóng dáng xưa. Để chứng tỏ mình cũng là tay cung kiếm một thời, những con nhà nọ, em gái thằng kia... Câu chuyện trở nên gần gũi, tôi râm ran bồi hồi với tên tuổi một vài người đẹp đã làm mình điêu đứng. Lần mò một lúc, anh dẫm trúng phải cô em vợ tôi ở phố Hàng Ngang. Người đồng hành, đồng hương càng trở nên thân thiết. Tôi như thấy cả Hà Nội đang thở nóng bên tai mình. Thế Giang "Lắng nghe!..Trái tim khóc màu riêng vậy"H.T.T. Hồi còn là học sinh trường Mỹ thuật, trong một đợt đi thực tế sáng tác ở nông thôn, tôi làm quen được với Út. Út không đẹp lắm nhưng có duyên, nhờ cái lúm đồng tiền tròn vo vo trên má mỗi khi nhoẻn cười.
Bấy giờ Út mới mười lăm tuổi. Mỗi khi rảnh việc, Út thường chạy đến xem tôi vẽ. Út tỏ ra thích những bức tranh tôi thể hiện cảnh đồng quê bằng cách chấm phá những đường nét dân gian trên các mảng màu thật nhạt. Như cảnh bờ ao với một vài con vịt đứng rỉa cánh, cảnh dòng kinh với một con bói cá cắp mồi bay vụt lên, còn để lại dưới nước một vòng tròn lan tỏa. Vẽ chán những cảnh quanh quẩn ở nhà, tôi xoay qua vẽ cảnh mặt trời trên đồng nước nổi. Để vẽ được cảnh đó, sáng nào tôi cũng dậy thật sớm. Khi tôi lịch kịch chuẩn bị các thứ bảng màu, giá vẽ, con dọi, com pa thì Út cũng thức. Tôi ở trên nhà chuẩn bị đồ lề của mình, Út ở dưới bếp nấu nước chăm trà cho ngoại. Ánh lửa rưng rức hắt vào mặt Út , bật lên những viền sáng, tự nhiên gợi cho tôi đề tài về thiếu nữ giữa đồng đứng gọi mặt trời thức giấc.
Tôi nghĩ tới đồng đưng. Những cánh đồng đưng ngút ngát, vào mùa nước nổi bị nhận chìm, trên mặt nước chỉ còn lất phất những đọt lá nào thật cao. Khi mặt trời lên, mặt nước của cánh đồng đưng có màu sắc riêng lạ lắm. Tùy theo sự dày đặc khác nhau của lớp đưng bị nhấn chìm mà sắc màu chuyển động, chuyển động liên tục theo sự phản quang của tia mặt trời ban mai chiếu xuyên qua mặt nước, rọi xuống những cọng đưng tua tủa bên dưới mà dội lại theo những góc gãy khác nhau. Nếu đặt trên nền ấy một chiếc xuồng, một thiếu nữ biết đâu tôi sẽ được một tác phẩm về sức trỗi dậy hoang sơ đầy lãng mạn.
Vậy là tôi hăm hở ra đi, hết ngày này qua ngày khác, cố gắng quan sát thật kỹ để nắm bắt cho được thần thái của sắc màu. Tôi kiên trì thể hiện bằng màu trên giấy không biết bao nhiêu lần. Chừng thấy tàm tạm, tôi mới bắt tay vào thể hiện hình tượng cô gái và mặt trời. Lấy ai làm mẫu bây giờ? Tôi nghĩ ngay tới Út. Tôi mới dạm hỏi, Út đã cười bẽn lẽn:
- Em xấu thấy mồ, làm mẫu hư tranh anh thì sao?
Ngoại Út ngồi uống nước, hút thuốc, nghe vậy, gõ gõ ngón tay xuống bàn, nói:
- Con nhỏ này thiệt! Mầy không giúp thì còn ai giúp?
Út lại cười. Đôi mắt cũng cười. Mái tóc cũng cười. Cái lúm đồng tiền tròn vo cũng cười.
Đường từ nhà Út ra đồng đưng phải vượt cả một cánh đồng chừng năm bảy cây số; để khỏi mất thời gian của Út, tôi bắt đầu vẽ Út với mặt trời vào mỗi sáng ngay trước cửa nhà. Tôi ngồi sau lái, Út ngồi ở mũi xuồng. Tôi phải bố trí cho chiếc xuồng nằm hơi xéo tia chiếu của mặt trời. Còn Út thì ngồi xếp hai chân về phía sau, người hơi đổ về phía trước, mặt xoay về hướng mặt trời. Một tay cầm mái dầm thả một cách hờ hững trên đùi. Một tay đưa lên trán như kiểu sắp hất cho mái tóc dài xõa về phía sau. Nội chừng ấy thôi, tôi đã mất tới bốn năm buổi sáng, với bảy, tám phác thảo mà vẫn chưa thấy hài lòng. Mỗi lần thấy tôi vẽ xong mà lắc đầu, Út lo lắm. Út nhìn tôi, hỏi một cách vô tư:
-Tại em ngồi mẫu kém phải không anh Ba? Em mắc tật cứ hay ngọ ngoạy chưn tay làm anh vẽ không được, phải không anh Ba? Để mơi em ráng ngồi thiệt êm cho anh vẽ nghe!
Tôi giải thích cho Út hiểu rằng, cái chính không phải là đường nét, mà là sắc màu. Tôi thất bại vì chưa diễn tả được cái đẹp hồn nhiên trong sáng của ánh nhìn trong mắt Út khi những tia mặt trời đầu tiên chiếu vào. Tôi nói với Út:
- Út biết không, khi tia mặt trời đầu tiên chiếu vào mắt em, ánh nhìn của em ngời lên ánh sáng rất diệu kỳ, đẹp không thể tưởng được; sang năm, sang năm nữa, anh quyết vẽ bằng được mới thôi.
Sau nhiều lần phác thảo chân dung tại chỗ, tôi quyết định cùng Út ra đồng để phối hợp xây dựng bố cục giữa thiếu nữ, mặt trời và đồng đưng ngay tại không gian tôi đã chọn. Ba bốn ngày liền, tôi với Út chống xuồng ra đồng đưng để dựng phác thảo. Điều làm tôi quay quắt nhất là chọn tông màu. Thiên nhiên ngời ngợi màu sắc, tôi không làm việc sao chép lại màu sắc ấy. Cái tôi cần thể hiện là phải tìm bằng được linh hồn của sắc màu, sao cho nói lên được sự yên ắng, hoang dã bật thức dậy trong đôi mắt thiếu nữ gọi mặt trời.
Một hôm, khi đang loay hoay pha màu, tôi bỗng nghe tiếng Út reo lên sung sướng:
- Sếu về! Sếu về rồi anh Ba ơi!
Tôi ngoái lại nhìn. Đẹp quá! Đẹp tuyệt vời! Những cánh bay dìu dịu, nhẹ nhàng như đan vào nhau mà chớp ngọn nắng hừng đông. Cả một bức tranh hoành tráng chuyển động sắc màu nâu nhạt trên nền trời xanh xám, ửng lên phơn phớt sắc hồng. Phải rồi. Tìm được tông màu rồi. Tôi cảm động đến lịm người.
- Sếu về rừng tràm, về đồng năng đó anh Ba. Vô rừng tràm coi chim đi anh Ba!
Tôi gật đầu với Út. Hai chúng tôi lúc bơi bằng dầm, lúc chống bằng sào, phải gần ba tiếng đồng hồ mới vô tới tràm chim. Những con sếu cổ trụi đứng dầm chân dưới nước như những chấm màu. Thấy người, chúng vỗ cánh bay dựng lên, tạo ra những âm thanh xao xác, mát lạnh tới xốn xang. Bay được một quãng, chúng lại đáp xuống, điểm màu cho đồng năng buổi sáng. Chúng tôi say sưa ngắm đàn sếu cổ trụi hết cả buổi. Con nào cũng to lớn và đẹp một cách duyên dáng. Con thì cần mẩn dùng cái mỏ dài đào củ năng. Con thì ngẩng cao đầu nhìn mặt trời. Nhiều con vỗ cánh nhảy múa những vũ điệu gọi mời hết sức lạ mắt.
Tới trưa, bất chợt một cơn mưa ập xuống. Tôi với Út phải tấp vô rừng tràm, căng tấm vải mủ ra đụt mưa. Trời cứ mưa mãi. Mưa muốn hết cả buổi chiều. Lạnh và đói. Út nói:
- Dứt mưa, em lên bờ bao đập rắn mối đãi anh nghe anh Ba!
Út đập được một xâu mười mấy con. Tôi gom lá tràm khô đốt lên nướng trui. Thịt rắn mối trắng, thơm và ngọt, ăn không biết chán.
Khi chúng tôi ngồi vào xuồng thì đã xế chiều. Bầu trời vần vũ những đám mây mọng nước. Út giục:
- Bơi lẹ anh Ba! Tối là hết thấy đường đó.
Ai đã sống ở đồng nước mới biết, khi tối trời, đồng nước mênh mông ngút mắt, không còn biết hướng nào ra hướng nào. Quay phía nào cũng chỉ nước là nước, nước quây chóng mặt. Chúng tôi đã lâm vào cảnh đó giữa lắc rắc mây mưa, giữa bịt bùng bóng đêm vây bủa.
- Út ơi! Lạc đường rồi phải không?
- Chớ còn gì nữa. Đâu, ta bơi về hướng có ánh đèn kia kìa. Có gì mình hỏi đường người tạ
Ngọn đèn coi chập chờn, tưởng gần mà tới được đến đó cũng mất gần cả giờ. Đó là ngọn đèn dầu hôi của một thằng nhỏ thắp lên canh chừng vịt. Thấy chúng tôi, nó ngạc nhiên hỏi: - Uả, anh Hai bị lạc đường sao cà?
Tôi kể cho nó nghe mọi chuyện. Nghe xong nó nói:
- Hai anh em từ sớm tới giờ chưa bỏ bụng miếng nào mà chịu thấu sao. Để tui nấu cháo vịt cho ăn.
Tôi chưa kịp ngăn lại, nó đã vọt lẹ ra gò đất quây vịt, vặn tréo cổ một con. Bầy vịt giật mình kêu quàng quạc.
Ăn uống xong xuôi, thằng nhỏ hấp háy con mắt, nói với tôi, giọng tỉnh queo:
- Tui ngủ xuồng cho, tui có nóp. Anh Hai với đứa em ngủ giường đi. Hồi chiều mắc mưa, ngủ ngoải bịnh à nghen!
Tôi từ chối cách mấy mấy nó cũng không chịu. Cuối cùng, tôi đành phải làm theo lời nó, bảo Út lên giường ngủ. Còn tôi, tôi ngồi hút khan hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác, chong mắt chờ trời sáng.
Quá nửa đêm, Út giật mình thức dậy, nói:
- Anh Ba nằm ké đây mà ngủ. Ngồi đó muỗi ăn thịt à.
Quả là muỗi nhiều thật. Muỗi cỏ trong đồng nhỏ lăn tăn, li ti, bay xám quanh mình, kêu ve ve như sáo thổi. Chúng đốt nhoi nhói, đau và ngứa muốn phát điên lên được.
Mệt quá, chịu hết xiết, tôi buộc phải phủi chân chun vô mùng ngủ chung với Út. Gần sáng, tôi thức giấc, thấy mình đang ôm Út trong lòng; mắc cỡ quá, tôi lật đật ngồi dậy, bước ra khỏi túp lều. Mình thật kỳ, may mà Út ngủ say không biết, chớ không dám độn thổ cho rồi.
Sau bữa đó mấy ngày, tôi hoàn thành tác phẩm. Ngoại Út đứng chống nạnh, dòm dòm một hồi rồi nói:
- Chú Ba vẽ y chang con nhỏ. Mà coi bộ còn giống hơn con nhỏ. Dòm vô thấy nó man mác như xa như gần. Giỏi thiệt!
Hết hạn, tôi chép lại một phiên bản tặng Út. Út mừng húm, đòi ngoại mua khung kiếng lồng bức tranh treo lên vách nhà. Vách nhà cặp bằng lá dừa nước xé, còn nguyên sống lá chạy đổ song sóng từ trên xuống, bức tranh nổi lên rất sống động, mặc dù nó chỉ là phiên bản. Cô gái trong bức tranh như đang chớp mắt gọi mặt trời. Mái tóc bay xõa như suối mây, vờn vào không gian thấp thoáng bóng chim, bóng cá, nhòa nhạt bóng nước, bóng trời.
Bảy năm sau, Hội Mỹ thuật tổ chức cho tôi một cuộc triễn lãm chung với hai họa sĩ khác. Hàng ngày, ba chúng tôi thường thả bộ đến gallery, ngồi uống nước quan sát người xem, coi họ đánh giá tranh ra sao. Một hôm có mấy nhà doanh nghiệp Canada tới, họ dừng lại trước bức | "Cô gái gọi mặt trời" của tôi. Một người nói bằng tiếng Anh:
- Vẽ rất sống. Vừa hồng hoang vừa hiện đại. Tông màu biến hóa kỳ ảo như huyền thoại. Thiếu nữ trong tranh phải là một người sống rất chân tình. Giá mái tóc được bật sáng thêm chút nữa...
Ông ta đặt cọc bức tranh 200 đô, với giá tự định 1500 đô; cao hơn giá treo tranh của tôi rất nhiều. Một ngàn năm trăm đô với tôi là cả một tài sản. Vợ chồng tôi sống trong một căn phòng tập thể ba chục mét vuông, ăn uống kham khổ. Đứa con trai đầu lòng ba tuổi, lúc nào cũng dệch miệng ra, đòi mẹ mua cho chiếc xe hơi đồ chơi chạy pin, mà chúng tôi không tài nào mua nổi.
Biết tin này, không hiểu sao vợ tôi lại hỏi:
- Này anh, cô Út của anh chắc có chồng rồi nhỉ? Bảy năm rồi còn gì!
Nghe vợ hỏi, tôi sực nhớ tới Út. Nhớ tới buổi sáng chia tay với Út.
Út bơi xuồng đưa tôi ra chợ xã. Dọc đường Út kể đủ thứ chuyện về đồng nước. Chuyện nào cũng chân chất như hột lúa hột cơm mà có duyên hết biết. Gần tới chợ, Út chợt hỏi tôi:
- Anh Ba về thành chắc nhiều con gái đẹp, dám quên ngoại, quên Út lắm nghe.
Tôi nói đùa với Út:
- Con gái thành coi màu mè sặc sỡ, chứ hơn sao được Út mà quên. Với lại, anh là sinh viên, đào đâu ra tiền mà cưới vợ thành phố. Đợi ra trường làm ăn có tiền, thể nào anh cũng về nông thôn cưới vợ.
Út gác mái dầm, nhìn tôi, nói:
- Dóc tổ! Anh Ba mà chịu cưới vợ quê!
- Thiệt chớ! Anh sẽ tìm cưới được một cô vợ giống hệt Út vầy nè!
Út đỏ mặt mắc cỡ, hứ một tiếng, rồi từ đó không nói chyện nữa, chỉ lặng lẽ chèo. Mãi tới khi đã cặp xuồng vào mé chợ, Út mới lại lên tiếng:
- Anh Ba cho Út tấm hình được không?
Tôi không có tấm hình nào. Tôi nói với Út rằng tôi ít chụp hình lắm, suốt ngày chỉ lo vẽ, quên cả đi chơi, đi chụp hình. Nghe tôi nói, Út buồn xịu xuống, mắt rưng rưng muốn khóc. Để an ủi Út, tôi rủ Út vô tiệm chụp hình chụp chung hai anh em một tấm làm kỷ niệm.
Bây giờ nghe vợ tôi nói vậy, tự nhiên tôi thấy mình có lỗi. Tôi ăn cơm ở nhà Út cả tháng trời không mất đồng bạc, mà khi trở về thành, tới một lá thư cảm ơn, thăm hỏi cũng không viết được. Vậy mà khi chia tay, tôi hứa hươu hứa vượn là dứt khoát sẽ về thăm, sẽ viết thư. Lòng đầy ân hận, ngay chiều đó, tôi tìm mua mấy món quà nhỏ, ra bến xe miền tây mua vé về thăm Út.
Tới nơi, cảm giác đầu tiên làm tôi lạnh cả người. Căn nhà vắng đến kỳ lạ. Bức tranh của Út, từ vách lá đã chuyển lên bàn thờ. Trời ơi! Út mất rồi sao? Tôi đau đớn lặng người, nước mắt trào ra mặn đắng. Thắp một nén nhang, tôi đứng lặng, chết trân trước bức phiên bản của tôi về Út.
Thấy có khách, bà hàng xóm chạy qua nói với tôi:
- Chú Ba mới về hả? Ông Bảy đi đám giỗ mơi mới về tới. Chú qua bên tui tắm rửa, ăn cơm! Cũng tới bữa rồi.
Bà hàng xóm thuộc hạng người ruột để ngoài da, bà ta kể tuồn tuột hết mọi chuyện về Út, không cần so đo ý tứ gì.
- Con nhỏ lạ lắm. Ba bốn đám tới hỏi mà nó không ưng, không chịu đám nào. Tía má nó ở xã bên qua ép, nó cũng không chịu. Với ai nó cũng nói, nó có chỗ rồi. Chừng nó bịnh, thấy thương lắm chú Ba ơi! Hễ nằm thiêm thiếp thì thôi, còn thức dậy là ứa nước mắt, hỏi: "Anh Ba có về thăm chưa ngoại?". Lúc đầu ai cũng tưởng nó hỏi thăm thằng Ba anh ruột nó, chừng thằng Ba từ biên giới xin về, mới biết không phải. Lúc nó chết rồi, thay bộ đồ cho nó, lục trong túi áo cũ, thấy có tấm hình chú Ba chụp chung với nó. Chèng ơi! Con nhỏ trông chú Ba mỏi con mắt. Chú thiệt là tệ! Đi gì đâu biệt tăm hơi, không biên cho nó được lá thư!
*
Trở về nhà, tôi kể lại mọi chuyện cho vợ tôi nghe, vợ tôi buồn bã nói:
- Anh ạ! Đừng bán bức tranh nữa. Cả hai đứa mình đều có lỗi với Út. Bán bức tranh đi, mình mắc tội với Út không biết bao nhiêu lần mà kể.
Hồ Tĩnh Tâm 
1. Ngoài trời, đêm lạnh và ướt, nhưng trong biệt thư. Lakesnam màn bỏ bốn bề, và lửa cháy sáng rực trong lò. Hai cha con ông White đang say mê đánh cờ. Người cha thua hai bàn nên có hơi bực. Bà vợ ngồi gần bên ôn tồn bảo:
- Ông đừng nóng, có thể bàn sau ông sẽ thắng.
Ông chồng vừa ngẩng đầu lên đúng lúc để nhìn thấy một cái nhìn đồng loã giữa hai mẹ con... Ngay lúc đó có tiếng động cửa bên ngoài và có tiếng chân bước về phía cửa. Ông White đứng lên mở cửa.
Chủ và khách chào hỏi nhau rồi bước vào trong. Khách lạ là một người cao lớn vạm vỡ, mắt nhỏ và sáng, mặt đỏ gay. Ông tự giới thiệu:
- Trung sĩ Morris.
Khách bắt tay những người trong nhà rồi ngồi xuống bên cạnh lò sưởi trong khi chủ rót rượu mời khách.
Đến ly thứ ba, đôi mắt khách lạ bừng sáng và ông ta bắt đầu nói chuyện. Gia đình nhỏ bé của chủ nhà gồm có ba người, quây quần chung quanh để nghe ông khách lạ từ phương xa kể nhiều chuyện kỳ quái.
Ông White gật gù nói với bà vợ và cậu con:
- Hai mươi mốt năm qua, khi cậu này ra đi lưu lạc giang hồ, cậu chỉ là một thiếu niên giúp việc trong kho hàng của mình. Bây giờ nhìn xem, cậu đã trưởng thành tốt đẹp!
Bà vợ góp ý:
- Cậu Morris có vẻ nhàn lắm.
Ông chồng:
- Tôi cũng muốn đi chu du thiên hạ, muốn ghé qua ấn Độ để cho biết với người tạ
Trung sĩ lắc đầu, bảo:
- Tôi nghĩ rằng ai ở đâu nên ở đó là tốt hơn hết.
Rồi đặt ly rượu xuống, ông khẽ thở dài rồi lại lắc đầu.
Ông White vẫn tiếp tục nói lên ý nghĩ của ông:
- Tôi muốn thấy những đền đài cổ, những ông phù thủy và những tay thuật sĩ. À, hôm trước cậu có nói sơ qua về câu chuyện bàn tay khỉ, cậu có thể kể thêm cho chúng tôi nghe không?
Trung sĩ vội gạt ngang:
- Thôi bỏ qua đi. Chuyện đó không đáng nói. Toàn nhảm nhí.
Nhưng bà White tò mò hỏi:
- Chuyện bàn tay khỉ? Chuyện đó ra sao?
Trung sĩ giải thích sơ qua:
- Đó là một câu chuyện có thể gọi là huyền bí.
Ba thính giả chồm tới lắng nghe. Ông khách mơ màng nốc cạn ly rượu rồi đặt xuống bàn. Ông White châm rượu vào lỵ Trung sĩ mò trong túi áo lấy một vật, đưa ra:
- Đây, bàn tay khỉ đây!
Nó cũng chẳng có gì lạ. Người ta đã phơi khô nó tự bao giờ.
Bà White ngả người ra sau, le lưỡi. Nhưng cậu con ngắm nghía cẩn thận. Ông White hỏi:
- Cái này có gì đặc biệt không?
Trung sĩ Morris tiếp tục nói:
- Bàn tay khỉ này có một phép màu do một vị phù thuỷ đại tài ban cho nó. Vị phù thuỷ này muốn chứng tỏ là con người ở đời ai cũng có số mệnh, và kẻ nào toan cải đổi số mệnh sẽ bị tai nạn buồn phiền. Bàn tay khỉ này có phép màu. Ba người ở đây có thể xin mỗi người một điều ước.
Thái độ của khách lạ rất trịnh trọng nên thính giả không cười nữa. Cậu Herbert hỏi:
- Tại sao ông không xin ba điều ước đó?
Trung sĩ nhìn cậu thanh niên với đôi mắt của kẻ lớn tuổi dành cho kẻ hậu sinh. Rồi ôn tồn đáp, gương mặt tái hẳn:
- Tôi đã có xin rồi!
Rồi nâng ly rượu lên nốc cạn. Bà White hỏi thêm:
- Còn có ai khác xin nữa không?
Trung sĩ đáp:
- Người đầu tiên được cả ba điều ước. Tôi không rõ hai điều trước là gì. Nhưng điều thứ ba là chết. Nhờ người đó chết nên tôi mới có vật này.
Giọng nói của ông ta rất trầm buồn, nghiêm nghị thành thử mọi người trở nên im lặng. Ông White nói:
- Nếu cậu đã được ba điều ước rồi thì vật này không còn giá trị đối với cậu nữa. Tại sao cậu lại giữ nó để làm gì?
Trung sĩ lắc đầu:
- Tôi có ý định bán nó, nhưng nghĩ lại tôi không muốn. Vì nó đã gây tai nạn cho biết bao người rồi. Vả lại không ai mua đâu, không ai tin chuyện tôi nói. Họ nghĩ thời buổi này làm gì có những chuyện hoang đường như thế. Vài người đòi thử trước rồi mới trả tiền sau.
Ông White lại hỏi:
- Nếu cậu được phép xin thêm ba điều khác, cậu có muốn không?
Trung sĩ lắc đầu:
- Tôi không biết, tôi không nghĩ tới vấn đề đó.
Y cầm bàn tay khỉ lên xoay qua xoay lại giữa mấy ngón tay rồi bỗng ném nó vào lửa. Ông White kêu lên một tiếng, cúi xuống kéo nó ra thật nhanh. Trung sĩ trịnh trọng:
- Nên đốt nó đi là hơn.
Ông White lắc đầu:
- Nếu cậu không muốn giữ nó thì cậu cho tôi.
Trung sĩ lắc đầu:
- Không được. Tôi ném vào lửa. Nếu ông tiếc mà giữ nó lại thì có chuyện gì xảy ra, ông đừng phiền tôi. Ông nên ném vào lửa đi cho được việc.
Ông White lắc đầu, chăm chú ngắm vật mà ông vừa làm chủ. Một lúc sau ông hỏi:
- Muốn ước, phải làm thế nào?
Trung sĩ:
- Nắm vật này trong tay mặt và lớn tiếng nói rõ những điều ước. Nhưng tôi khuyên ông hãy suy nghĩ cẩn thận lại. Nên thấy rõ những hậu quả của hành động của ông.
Bà White kêu lên:
- Giống như chuyện Ả Rập "Ngàn lẻ một đêm".
Bà đứng lên lo buổi ăn tối, nói đùa:
- Đâu, ông ước cho tôi có bốn tay để làm công việc nhà nhanh chóng.
Ông chồng lấy bảo vật trong túi ra, và cả ba người trong gia đình bật cười khi trung sĩ hốt hoảng nắm tay ông lại, dặn dò thêm:
- Nếu ông cương quyết xin ba điều ước thì nên xin sao cho hợp lý.
Ông White bỏ lại vật vào trong túi, kéo ghế mời trung sĩ ngồi xuống bàn. Trong khi ăn, người ta quên câu chuyện bùa chú, nhưng sau lúc ăn cả ba người ngồi quây quần bên anh quân nhân để nghe chuyện kỳ thú ở Ấn Độ.
Ông khách cáo từ, Herbert tiễn ông ra cửa rồi quay vào ngay nói với cha mẹ cậu:
- Nếu câu chuyện huyền hoặc về cái bàn tay khỉ là chuyện bịa đặt cũng như các câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm mà ông ta vừa kể cho mình nghe thì mình có bảo vật đó cũng chẳng ích gì.
Bà White nhìn chồng chăm chú rồi hỏi:
- Ông có trả cho cậu đó chút đỉnh gì không?
Ông chồng:
- Của chả đáng gì. Cậu ta không thèm nữa, ném vào lửa. Tôi lượm mót, cậu ta lại khuyên tôi vứt đi.
Cậu Herbert vẻ tin tưởng:
- Đâu mình thử ước xem. Nếu linh ứng thì gia đình mình sẽ giàu có, tên tuổi, hạnh phúc. Ba hãy ước được làm vua. Và trước khi làm vua, ba sẽ không... thờ bà.
Nói xong cậu chạy quanh bàn ăn vì mẹ cậu đuổi theo toan "ký" vào đầu cậu về câu nói phạm thượng đó.
Ông White lại móc túi lấy bùa ra, nhìn nó với vẻ bán tín bán nghi, lẩm bẩm:
- Tôi chưa biết phải ước gì đây? Kể ra thì đời tôi đầy đủ, chẳng thiếu thứ gì.
Cậu con đến bên cạnh cha, nói:
- Bây giờ nếu có thêm một ít tiền xài chơi chắc ba thích lắm. Vậy ba nên ước có hai trăm bạc.
Người cha cười dễ dãi, như tự tha thứ tánh dễ tin của mình rồi cầm bàn tay khỉ đưa lên cao, vẻ trịnh trọng. Ông nheo mắt về phía bà vợ đang ngồi sau chiếc dương cầm. Bà đánh lên mấy nốt nhạc thật mạnh. Ông chồng dõng dạc nói to lên:
- Tôi muốn có hai trăm bạc.
Bà White đánh thêm mấy nốt nhạc như để phụ hoạ với lời ước ao của chồng. Nhưng liền sau đó ông White kêu lên:
- Ý trời đất ơi! Nó nhúc nhích!
Vừa lạ, ông vừa nhìn cái bàn tay khỉ đang cử động trên sàn. Ông nói tiếp:
- Khi nãy tôi có ước là trông thấy bàn tay này nhúc nhích trong bàn tay tôi như một con rắn. Rõ ràng là điều tôi ước đã được ứng nghiệm.
Cậu con cầm bàn tay khỉ lên, đặt trên bàn, nói:
- Nhưng con chưa thấy có tiền, và con cam đoan là số tiền đó sẽ không bao giờ đến với tạ
Bà vợ hoang mang bảo chồng:
- Ông ước chuyện không hay!
Ông chồng lắc đầu:
- Chỉ là trò đùa thôi. Bà đừng thắc mắc. Dù sao chuyện này cũng làm cho tôi kinh sợ.
Cả gia đình ngồi bên lò sưởi. Hai cha con ông White ngồi hút ống điếu.
Bên ngoài gió gào dữ dội hơn bao giờ hết, cánh cửa trên lầu bị gió đập kêu rầm rầm, tiếng động đó khiến ông White lo sợ không đâu.
Bầu không khí lạ thường bao trùm gia đình cho đến khi họ đi ngủ.
Cậu Herbert nói:
- Con hy vọng ba sẽ nhận được số tiền hai trăm bạc mà ba ước trong một túi lớn đặt trên giường của ba và sẽ có một cái gì ghê gớm ngồi trên nóc tủ chứng kiến lúc ba nhận số tiền đó.
2.
Sáng hôm sau trời trong sáng, Herbert mỉm cười trước những điều lo sợ hoang đường trong đêm. Bàn tay khỉ bỏ lăn lóc trên mặt bàn trong phòng. Điều này cho thấy là báu vật lúc này không được người ta tín nhiệm, tưng tiu như trong đêm. Bà White nói:
- Tôi nghĩ ông quân nhân nào cũng vậy. Họ mê tín dị đoan lắm. Vậy mà chúng mình cũng chịu khó lắng nghe. Thật là vô lý. Vào thời buổi này làm gì có những chuyện ước nguyện như vậy! Và nếu như chuyện này có thật thì số bạc hai trăm đến tay ông bằng cách nào?
Cậu Herbert xen vào:
- Chắc là từ trên trời rơi xuống!
Ông White nói:
- Cậu Morris quả quyết là các điều ước ứng nghiệm một cách tự nhiên khiến người ta nghĩ đó là sự ngẫu nhiên.
Sau khi ăn xong, Herbert đứng lên:
- Nếu có tiền thật thì ba hãy giữ nguyên trước khi con về. Con chỉ sợ số bạc đó sẽ biến ba thành một người hà tiện và má với con phải giữ số tiền đó cho bạ
Bà mẹ cười trước câu nói đùa của con. Bà theo Herbert ra cửa rồi quay trở về bàn ăn. Bà có vẻ vui tươi trước thái độ dễ tin của ông chồng.
Dù vậy khi nghe người phát thư gõ cửa, bà cũng chạy nhanh ra hy vọng có tiền. Nhưng bà chỉ nhận được giấy đòi tiền Herbert may quần áo của ông thợ may. Đến bữa ăn chiều, vẫn không có gì mới lạ. Bà mẹ lẩm bẩm:
- Chốc nữa đây thằng Herbert về, nó sẽ chế nhạo ông nhiều nữa cho mà coi!
Ông White rót bia vào ly nói:
- Có một chuyện lạ là bàn tay khỉ cử động khi tôi nắm nó trong tay.
Bà vợ cười:
- Đó là tại ông giàu óc tưởng tượng.
Ông chồng nhấn mạnh:
- Tôi không nghĩ mà tôi biết rõ ràng nó cử động...
Bà vợ không đáp, bà đang nhìn một người bên ngoài đang có những cử chỉ khác thường. Ông này nhìn đăm đăm vào nhà, nhưng do dự nửa muốn vào nửa muốn không. Bà White thấy kẻ lạ ăn mặc đàng hoàng, đầu đội nón thật mới. Ba lần y đứng lại trước cổng rồi tiếp tục đi. Đến lần thứ tư y đứng lại, đặt tay lên cổng rồi bỗng nhiên cương quyết đẩy cửa cổng bước vào con đường đưa tới trước cửa nhà.
Bà White vội vàng cởi khăn choàng trước ngực giấu dưới nệm. Bà đưa khách lạ vào phòng. Ông này có vẻ không được tự nhiên. Ông thường nhìn trộm bà và lơ đãng nghe bà giải thích vì sao phòng khách không được ngăn nắp như thường ngày.
Bà White không dám hỏi ngay lý do cuộc viếng thăm của khách lạ. Sau cùng ông khách mới nói:
- Thưa bà, tôi được người ta nhờ đến đây để...
Khách im lặng một lúc rồi tiếp:
- Tôi từ Maw và Meggins tới đây.
Bà White giật mình, hổn hển nói:
- Có việc gì không? Herbert có chuyện gì?
Ông chồng xen vào:
- Bà nên bình tĩnh. Mời ông ngồi. Chúng ta nên thong thả. Tôi nghĩ ông không mang tin dữ đến cho chúng tôi, phải vậy không?
Vừa nói ông vừa nháy mắt với khách lạ.
Ông khách ấp úng:
- Tôi rất tiếc...
Bà White vẫn không an tâm:
- Con tôi bị thương?
Khách lạ gật đầu, ôn tồn nói:
- Dạ phải, cậu Herbert bị thương nặng. Nhưng cậu cảm thấy không đau đớn gì hết!
Bà mẹ chắp hai tay lại kêu lên:
- Cám ơn Chúa đã giúp con tôi. Chúa đã...
Bà chưa dứt lời, bỗng thấy khuôn mặt buồn thảm của khách lạ, bà bấm bàn tay chồng để giữ bình tĩnh. Im lặng một lúc thật lâu, khách lạ nói thật nhỏ:
- Cậu Herbert bị kẹt trong guồng máy!
Ông White lặp lại câu đó như một tiếng vang:
- Kẹt trong guồng máy!
Rồi ông nhìn ra ngoài cửa sổ, siết chặt bàn tay vợ. Ông nói với khách lạ, giọng thật buồn:
- Herbert là đứa con duy nhất còn lại của chúng tôi. Nó chết rồi, chúng tôi thật là bơ vợ
Khách lạ ho mấy tiếng, đứng lên từ từ bước về phía cửa sổ. Ông nói:
- Công ty phái tôi đến để tỏ lời phân ưu với ông bà về tai nạn đáng tiếc vừa quạ
Khách nói một hơi không nhìn đôi vợ chồng già, tiếp tục:
- Tôi chỉ là nhân viên của công ty, xin ông bà hiểu cho tình thế của tôi.
Không ai trả lời. Gương mặt bà vợ tái xanh, đứng tròng và hơi thở của bà chỉ còn thoi thóp. Còn ông thì có vẻ xa vắng. Khách lạ nói tiếp:
- Công ty Maw và Meggins không nhận trách nhiệm trong tai nạn này. Nhưng vì cậu Herbert đã giúp việc lâu năm cho công ty nên công ty quyết định gửi đến cho ông bà món tiền gọi là...
Ông White buông bàn tay của bà vợ mà ông đang nắm, nhìn khách lạ với đôi mắt đầy kinh hãi:
- Bao nhiêu?
- Hai trăm bạc.
3. Trong nghĩa địa mới lập, rộng thênh thang, cách nhà độ hơn dặm, hai vợ chồng già chôn cất đứa con duy nhất. Họ trở về nhà sống âm thầm như hai chiếc bóng.
Chuyện xảy ra quá nhanh chóng khiến họ ý thức được tầm quan trọng của vấn đề. Họ vẫn ở trong tình trạng chờ đợi, hy vọng một cái gì xảy ra để cho họ nhẹ bớt được phần nào gánh nặng sầu đau, quá nặng đối với hai vợ chồng già.
Nhưng ngày lại ngày thấm thoát qua và niềm hy vọng mơ hồ của họ trở thành tuyệt vọng. Họ sống âm thầm. Cả ngày không trao đổi với nhau một lời, vì họ chẳng còn gì để nói. Cho nên ngày tháng đối với họ thật dài, dài không chịu nổi.
Một tuần sau, ông White giật mình thức giấc vào lúc nửa đêm. Ông dang cánh tay ra và chỉ thấy một mình trên giường. Gian phòng tối đen, chỉ có tiếng khóc nghẹn ngào bên cửa sổ. Ông ngồi dậy, lắng nghe một lúc rồi bảo:
- Bà ơi! Bà vào đây, ở đó coi chừng trúng sương, trúng gió.
Bà vợ khóc òa lên:
- Nhưng con tôi còn lạnh hơn tôi nhiều!
Ông chồng vẫn còn mê ngủ, ông nằm xuống chiếc giường ấm êm, nhắm mắt lại. Ông đang mơ màng thì nghe tiếng bà vợ hét lên thật hãi hùng. Ông lồm cồm bò dậy thì nghe tiếng bà vợ la tiếp:
- Cái bàn tay khỉ! Cái bàn tay khỉ!
Ông chồng hỏi:
- Ở đâu? Để làm gì?
Bà vợ thất thểu tiến về phía ông nói:
- Tôi muốn thấy cái bàn tay khỉ! Ông đã thiêu hủy nó chưa?
- Chưa. Tôi để nó ở ngoài phòng khách, trên giá đàn. Nhưng để làm gì?
- Mình mới chỉ ước có một điều, còn hai điều nữa.
Ông chồng kêu lên giận dữ:
- Trời ơi! Bấy nhiêu đó còn chưa đủ sao?
Bà vợ cũng to tiếng không kém:
- Chưa! Tôi còn có thể ước thêm một điều nữa. Ông xuống dưới lấy lên đây. Nhanh, nghe không? Và ước cho thằng Herbert sống lại.
Ông White ngồi dậy, vứt mền sang một bên, hoảng hốt:
- Trời đất! Bà có điên không?
Nhưng bà vợ vẫn cương quyết:
- Ông đi lấy ngay đi. Và ước cho thằng Herbert sống lại.
Ông chồng quẹt lửa thắp ngọn nến, bảo:
- Bà nên đi ngủ đi, bà không biết bà đang nói gì.
Bà vợ vẫn không chịu thua:
- Chúng ta đã có điều ước thứ nhất, tại sao lại không có điều ước thứ hai?
Ông chồng lẩm bẩm:
- Đó là một sự ngẫu nhiên.
Bà cụ ré lên:
- Ông có đi nhanh không! Và ước y như tôi nói.
Ông chồng đành đi xuống lầu trong đêm tối, mò mẫm vào phòng khách. Đến bên lò sưởi ông thấy bảo vật vẫn nằm ở chỗ cũ. Một sự lo sợ xâm chiếm lấy hồn ông. Ông sợ ước cậu con sống lại, cậu sẽ bị tật nguyền suốt đời. Với sự lo sợ đó ông toát mồ hôi, lò mò mãi mà không trở lên lầu được.
Nét mặt của bà vợ đổi sắc khi ông White bước vào phòng ngủ. Ông cảm thấy sợ cả bà vợ của ông. Bà vợ kêu lên:
- Ước đi!
Ông ấp úng nhưng bà vợ lại quát:
- Ước đi!
Ông White nắm tay đưa lên:
- Tôi ước con tôi sống lại!
Cái bàn tay khỉ rơi xuống sàn. Ông thấy nó nhúc nhích. Hai vợ chồng già chăm chú nhìn bảo vật một lúc, tâm trí như đặt hết tin tưởng vào phép lạ. Một lúc sau bà vợ tiến đến bên cửa sổ, vén màn lên. Bà đứng đó, nhìn ra ngoài chờ đợi cậu Herrbert sống dậy trở về.
Ông chồng ngồi bất động trên ghế. Ông cảm thấy khí lạnh thấm vào cơ thể, nhưng vẫn ngồi yên, thỉnh thoảng liếc về phía bà vợ đang nhìn lom lom ra phía ngoài đường.
Ngọn nến đã tàn, ném những mảnh ánh sáng chập chờn lên trần, lên tường. Cuối cùng, khi tim nến đã lụi, đốm lửa bỗng loé lên lần chót rồi phụt tắt. Ông White thấy nhẹ người khi bảo vật không đem lại lời ước thứ hai của ông. Ông trở về giường nằm. Một hai phút sau bà cụ cũng đến ngồi bên ông. Không ai nói với ai lời nào, cả hai nằm trong tiếng tích tắc của đồng hồ. Trong sự yên lặng của đêm, dường như có tiếng răng rắc xuất phát từ thang lầu, tiếng chuột chạy sát chân tường. Bóng tối như đè lên người khiến ông cụ ngột ngạt, khó chịu. Sau khi nằm ráng một chút để lấy can đảm, ông cụ lấy hộp quẹt, bật lửa lên, đi xuống lầu để tìm một cây nến khác
Đúng vào lúc đó có tiếng gõ cửa thật nhẹ, lén lút cho nên tiếng động rất nhỏ, gần như đủ lớn để cho người nghe thấy.
Hộp quẹt rơi khỏi bàn tay ông White. Ông đến chết sững, hơi thở của ông ngưng lại cho đến khi tiếng gõ cửa lại vang lên lần nữa. Bấy giờ ông mới quay lưng lại để chạy về phòng ngủ, đóng cửa thật nhanh.
Một tiếng gõ cửa thứ ba vang động khắp nhà. Bà cụ giật mình kêu lên:
- Cái gì vậy?
Ông chồng run run đáp:
- Chuột, một con chuột chạy lên thang lầu, suýt dẫm lên chân tôi.
Bà cụ ngồi trên giường lắng nghe. Lại một tiếng động vang lên khắp nhà. Bà kêu lên:
- Herbert về! Chính Herbert về.
Bà chạy về phía cửa, nhưng chồng bà đã tới trước bà. Ông nắm tay níu bà lại, hỏi:
- Bà định làm gì?
Bà cụ kêu lên:
- Herbert về! Nó là con tôi. Ông phải để tôi mở cửa cho nó vào. Buông tôi ra!
Ông cụ run rẩy, van nài:
- Không! Bà không nên cho nó vào!
Bà cụ bất bình:
- Coi kìa! Ông sợ cả con ông nữa sao? Hãy buông tôi ra. Để tôi mở cửa cho nó vào.
Rồi bà nói to:
- Má đây! Herbert, chờ má một chút!
Lại thêm một tiếng, rồi hai tiếng gõ cửa. Bà vợ vùng khỏi tay chồng, chạy ra khỏi phòng. Ông chồng theo bà tới cầu thàng, dang tay bất lực gọi với theo, nhưng bà lao xuống đến tầng dưới.
Ông nghe tiếng mở khoá và tút chốt thật khó khăn. Thế rồi tiếng bà vợ hổn hển kêu to:
- Còn cái chốt! Ông mau xuống mở giùm đi!
Trên lầu, ông chồng đang quỳ xuống sàn mò kiếm cái bàn tay khi. Ông cố kiếm được nó trước khi kẻ gây ra tiếng gõ cửa bước vào nhà. Trong khi đó tiếng gõ cửa vang dội liên tiếp như một loạt súng. Ông nghe tiếng kéo ghế mà bà vợ đặt ngay trước cửa. Ông nghe tiếng chốt cửa khua lên. Cũng trong lúc đó ông tìm được cái bàn tay khỉ.
Hổn hển, ông nắm nó vào bàn tay, đưa lên cao nói lên lời ước thứ ba và cũng là lời ước cuối cùng.
Đột nhiên tiếng gõ cửa ngưng ngay tức khắc, mặc dầu những tiếng động trước đó vẫn còn vọng dội vào trong nhà. Cùng lúc ông nghe tiếng ghế kéo ở phía cửa và cánh cửa mở toang.
Gió lạnh lùa vào, thổi tạt lên tận cầu thang... Tiếng rên đầy đau đớn thất vọng của bà vợ khiến ông White có thêm can đảm để chạy xuống bên cạnh bà.
Rồi như còn quán tính, ông chạy thẳng ra cổng bên ngoài. Ngọn đèn đường lù mù đối diện với ngôi nhà toả ánh sáng yếu ớt xuống con đường im vắng, không một bóng người...
W.W. Jacob (1902)  Dực đã đi rất đỗi nhẹ nhàng. Dực đang chỉ chạm khẽ mũi giầy vào bậc thang gỗ. Cảm giác Dực đang bay. Bậc cầu thang nâu bóng mầu thời gian, nâu bóng rêu phong những kiếp người hình trôn ốc. Có người đang nhìn Dực, nhiều người đang nhìn Dực. Họ kinh ngạc trân trối ngóc đầu lên những bậc cầu thang gỗ. Có phải tiếng động của gót giầy Dực không, hay âm thanh phán lên niềm rắc rối nhịp đập trái tim? Xoáy xuống, xoáy tròn, hun hút và tăm tối. Từ tầng ba xuống tầng một mà đi cả 27 năm trời chưa xuống được tới nơi. Dực cười thầm ý nghĩ của mình. Hình như có âm thanh nào đó đang trườn tới.
- Hôm nay thứ Hai mà Dực cũng đến Thư viện à?
Thứ Hai ư? Dực nhìn xuống đôi giầy của mình trước khi lướt mắt qua người đàn ông.
- Vâng, đúng rồi. Thứ Hai nên Dực mới đi giầy cao gót và mặc bộ áo váy sang trọng này. Anh Dũng chưa nhìn thấy Dực đi giầy cao gót bao giờ đúng không?
- Thì Dực chỉ đến đây vào chủ nhật, những hôm Dực mặc quần bò và đi giầy thấp, làm sao anh thấy được?
Người đàn ông thủ thư của phòng đọc. Anh ta đang nói về những đôi giầy của Dực. Cao thấp, thấp cao ảnh hưởng gì đến cuộc đời anh ta, ảnh hưởng gì đến những cuốn sách mối mọt mà anh ta đang cất giữ?
- Bao nhiêu người đang nhìn em đấy. Đôi giầy cao gót của em gõ vọng cả sáu tầng nhà Thư viện Quốc gia.
Ô hay, thế mà Dực không biết. Dực đã bay xuống những bậc thang gỗ mà vẫn phát ra được những tiếng động ư? Dực có nghe tiếng gì đâu. Một, hai, ba. Dực đi tiếp. Rùng rợn tiếng quỷ khóc, ai oán giọng ma kêu. Chít chít, chuệch choạc, âm thanh chưa chạm, tiếng của sự rơi vào hư vô. Dực phải bỏ đôi giầy ra thôi. Nơi tĩnh lặng thế này Dực sẽ phá hỏng biết bao ý tưởng đang rồ lên điên dại điều khiển bàn tay lật giở từng trang sách kia. Cúi xuống, những ngón tay thon dài của Dực chạm vào mũi giầy, kéo ra. Không! Dực không kéo nó ra nổi. Từng lọn tóc bỗng dài thêm và đang vùng vẫy dưới miếng da màu đen. Lẫn lộn giày tóc, lẫn lộn niềm đau. Dực cố vùng lên ngẩng cao đầu, đưa chân ra nhưng đầu và chân Dực đều không cử động. Từng sợi, từng lọn bứt ra khỏi đầu Dực toẽ hình hoa huệ tàn phủ lấp mũi giầy. Chân tóc trắng sắp hàng so đũa chổng ngược kinh hoàng nhìn Dực đang hãi hùng. Chân tóc chuyển dần đỏ rượi toé ra từng sợi, từng sợi. Màu máu, hình như là máu. Anh sẽ cưới vợ vào tháng 12 này. Vợ anh là một ca sĩ mà chắc em đã từng nghe tên. Vướng vít tóc Dực bay lượn anh, vợ, ca sĩ, mười hai. Đỏ máu, chữ được nặn từ máu Dực. Dực đọc nó rõ ràng hơn trên màn hình máy tính hồi nãy
- Chị cho đi nhờ một chút
Tiếng nói màu xanh vang lên ngay sát hông Dực. Có người đang nói, tiếng nói màu xanh, xanh ô liu. Dực đứng dậy, Dực nghĩ mình đang đứng dậy.
- Chị Dực, chị làm sao thế? Mặt mũi chị tái xanh. Sao chị lại ngồi đây?
- Sao chị lại ngồi đây ư?
- Em tên Hưng vẫn thường dắt xe cho chị mỗi tối Chủ nhật lúc tám giờ. Như thời khoá biểu bao giờ khi chị đang loay hoay với chiếâc xe gắn máy có trọng lượng gấp ba lần cơ thể chị lại thấy em xuất hiện. Mọi người nói là em thích chị, chị cũng nói là em thích chị. Ừ nhỉ, sao chị lại ngồi đây vào buổi chiều thứ Hai khi đáng ra chị đang phải có mặt trong cuộc họp quan trọng?
- Chị vừa ở trên phòng Internet xuống. Em cũng lên đấy à?
- Vâng, em lên mạng kiếm tài liệu, em đang làm luận văn tốt nghiệp. Nhưng sao chị không vào mạng ở cơ quan mà phải đến đây?
- Cơ quan chị bị cúp điện.
Dực biết giọng nói của mình mới chuyển sang màu vàng, màu Dực cho rằng giả dối. Cơ quan Dực điện vẫn sáng, những chiếc máy tính màn hình vẫn bật xanh len lét. Và chỉ cách đây 30 phút, Dực vừa online. Dực yêu quý. Anh nghĩ phải nói cho em biết. Anh sẽ cưới vợ vào tháng 12 này. Vợ anh là một ca sĩ mà chắc em đã từng nghe tên. Đừng hỏi anh vì sao lại chia tay em. Cuộc sống vốn thế Dực à.
Dực đã nghi ngờ đôi mắt vốn vẫn thường được mọi người khen là tinh anh của mình. Dực lao vút xuống cổng cơ quan buổi trưa mùa thu. Thời tiết vàng ớn lạnh. Dực chạy đến Thư viện. Dực phải lật giở các trang sách, sở thích của Dực từ 6 tuổi, cứu cánh của Dực những lúc buồn để xem người ta nói gì, người ta biết gì về sự đời. Để người ta giải thích cho Dực vì sao người đàn ông Dực yêu thương hết lòng bỏ Dực không vì một lý do nào. Im ắng. Tiếng nói màu trắng vang lên đáp lời Dực. Và Dực gõ gót giầy nhọn cệch cạc bảy phân ngày thứ Hai sang trọng ở cơ quan lên bậc cầu thang gỗ. Anh sẽ cưới vợ vào tháng 12 này. Những hàng chữ uy quyền màu đen phán đi phán lại. Dực buốt kim châm. Bật rễ từng chân tóc Dực 27. Khánh Dực, Nguyễn Khánh Dực ơi, cô sắp trọc đầu rồi. Tiếng nói màu đỏ rực, màu lên đồng, màu tương lai.
*****
- Thầy chưa gặp người đàn bà nào có những sợi tóc tơ mỏng mảnh đến như em.
- Em không phải đàn bà.
- Sao em lại không phải đàn bà?
Dực cắn sợi tóc ngang vai, sợi tóc 16 tuổi.
- Em muốn nói rằng chưa phải, em là con gái.
Ông Giáo sư cười âm ỷ, giọng cười xanh lục sang trọng người đàn ông 50 một đời vợ. Dực đắm đuối, bấn loạn trên dư âm giọng cười và ánh mắt ấy. Tập tài liệu Giáo sư đưa Dực đang cầm trên tay rớt nhẹ. Hỗn mang trời đất. Dực biết, Dực nhìn thấy thầy giáo mình đang trườn tới. Điệu cười màu xanh lục, thân hình rắn tìm mồi. Khô đắng cổ họng Dực để có thể cất lên thành lời.
- Em đẹp lắm, vẻ non tơ của em làm thầy thèm thuồng ngay từ buổi đầu nhìn thấy em trên giảng đường.
Giọng nói có cánh, nó bay vút đến tai Dực. Nhưng sao Thầy lại thèm khát Em? Giọng nói màu đen rồi. Sao Dực vẫn muốn bay lên, Dực không thể bỏ chạy khỏi màu đen. Rườn rượt đỏ mọng lên đôi môi cong trễ của Dực. Ngàn vạn râm ran cấu xé thân thể Dực.
- Thầy yêu em, thầy yêu em cô gái xinh đẹp. Em sẽ thành đàn bà, thầy giúp em ngay bây giờ cô gái bé bỏng.
Đàn bà, đàn bà, sẽ thành đàn bà. Chao đảo căn hộ tầng ba khu chung cư nhà Giáo sư. Bàn tay, không phải, gọi tên bằng đam mê xới từng phân vuông đê mê Dực. Những sợi tóc tơ bị chèn ép xuống nền gạch hoa. Hình như chúng đứt. Dực nghe mơ hồ âm thanh chúng gãy tan tành đứt đoạn. Rừn rựt hổn hển màu da cam nhịp đập Giáo sư. Phựt, âm thanh rực oà đỏ chói. Dực cháy, nó át tiếng phựt những sợi tóc lìa khỏi đầu cô gái vừa trở thành đàn bà. Da cam ực lên trinh tiết, buông thả khát thèm. Nhưng Dực nhìn thấy màu lông chuột, màu xám cỗ quan tài. Dực cố vùng lên. Dực muốn mở nắp quan tài xem bên trong là ai, ai chết thế? Mở được rồi, một lọn tóc tơ của Dực nằm trong ấy, chân tóc nhức nhối máu tươi, màu phía dưới bụng Dực đang chảy.
- Em có đau không? Em sướng lắm phải không? Vẫn cong người lên thế kia chắc là còn thèm phải không em? Chờ thầy đã nhé.
Thầy, em, rướn, Dực đang ở miền nào thế này, ở kiếp nào thế này? Ai đang cấu xé bầu vú Dực thế? Thầy ư, Giáo sư ư? Máu, máu chảy lòm cả nền gạch. Không phải căn phòng giường nệm sa tanh trắng muốt nhìn ra biển. Không có ánh nến hồng lung linh. Không có sâm banh. Không phải chàng trai khoé miệng rộng cười kiên nghị bộ ngực phẳng vuốt ve tóc tơ của Dực.
Một tuần sau đó, khi Dực nhìn thấy Giáo sư của cô xanh lục trườn tới một cô sinh viên năm thứ nhất như Dực ở đúng khoảng gạch Dực đã trở thành đàn bà, da đầu chưa kịp lên tóc của cô rỉ máu. Dực đưa bài thơ viết tặng Giáo sư đang cầm trên tay quệt ngang da đầu, vết đỏ châm toác câu chữ.
Bao giờ bác bảo vệ cơ quan cũng nhìn khoảng trống phía dưới cằm Dực và nuốt nước bọt vào 7.30 sáng. Dực ngầm thoả thuận với bác sĩ quan về hưu kinh qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ khẩu hiệu:
- Chào bác nuốt nước bọt. Bác ăn sáng cháu no rồi thì để cháu lên phòng làm việc.
Bao giờ vị sĩ quan già cũng nhướng mắt nhìn theo dong dỏng cao Dực đến khi đôi mông tròn lẳn và mái tóc đen nhánh của cô khuất sau cây liễu già. Văn phòng Bộ gì mà chỉ rặt liễu là liễu, choán hết cả tầm mắt. Lại phải chờ đến 11.30 mới được nuốt nước bọt! Bao giờ cũng như bao giờ, Dực đọc rõ ràng suy nghĩ vị sĩ quan gác cổng. Vuốt lọn tóc ngang bầu vú, Dực ấm lên sự đụng chạm vào chỏm vú sau lần áo. Đuôi tóc hát khúc khẽ khàng mơn man.
Bao giờ Dực cũng là người đến sớm. Sếp Dực bao giờ cũng đến muộn. Căn phòng rộng thênh thang chỉ có hai người. Thảm đen mịn màng, ghế đỏ sẫm to quá cỡ và chiếc bàn dài như lưỡi vị Thứ trưởng mỗi khi bước lại gần Dực.
- Cô bé đáng yêu của tôi. Tối qua em ngủ ngon không? Áo em đẹp quá, áo em trắng quá nhìn không ra, không ra hai ngọn đồi trong sương mù. Em thấy chưa, tôi làm thơ còn hay hơn cái anh chàng bị hủi điên khùng đấy chứ. Khen tôi đi Khánh Dực. Thưởng cho tôi đi Hoàng Cúc, Mộng Cầm kiều diễm của tôi.
Gió lốc tràn tới ầm ầm. Cưa, dùi, đục, cắt bầu vú và hai má mông Dực. Bác gác cổng ăn sáng bằng mắt và ngài Thứ trưởng ăn sáng bằng tay. Và cô thư ký bé nhỏ chôn trong chiếc quan tài màu lông chuột những sợi tóc bật gốc. Dực quá yếu ớt và đơn độc. Mẹ Âu Cơ khi mang thai 100 quả trứng, trinh tiết đã mất tỉnh bơ bảo Dực:
- Đừng lãng mạn bạn yêu mến. Bạn thà rụng hết tóc trên đầu còn hơn thất nghiệp thời buổi này ở Việt Nam. Công chức nhà nước cấp Bộ oai ghê oai gớm, mơ ước của hơn 40 triệu đàn bà con gái đã trưởng thành hay đang cởi truồng tắm mưa đấy Dực ạ.
Ôi, mẹ Âu Cơ, mẹ đã nói thế thì con đành phải vâng lời. Con mang chôn tóc con trong những chiếc quan tài màu lông chuột ở khu vườn hoang đầy hoa dại. Âm sắc Mẹ đỏ rực, xám lạnh uy quyền, con nào dám trái lời.
- Dực ơi, tối nay Dực có bận không?
Âm hưởng nhẹ như tơ trắng trong suốt. Thơm lên trước cửa WC văn phòng Bộ. Nó luồn từ Nữ sang Nam.
- Có việc gì không Thức?
- Nếu Dực không bận, Thức muốn mời Dực đi nghe nhạc Trịnh tối nay.
Giọng nói chuyển sang loe loét, nhờ nhợ cháo lòng. Mời nghe nhạc Trịnh trước cửa nhà vệ sinh buổi trưa sau khi nốc đầy bia hơi vỉa hè. Nhờ nhợ ói lên da đầu Dực
- Xin lỗi nhưng Dực bận rồi. Thức rủ người khác đi đi.
Thức ơi, cậu quá trẻ, Dực không chơi với non tơ như Thức. Màu trắng nhờ nhợ ào xuống thân tóc Dực. Trắng từng đoạn. Dực già rồi, già 27 tuổi. Nó rụng vào 24 hau háu, non tơ của Thức.
- Cô thư ký của tôi ơi, chuẩn bị đi, thứ Năm này lên đường vào Huế một tuần. Có thể sẽ qua Đà Nẵng trước khi về. Nhớ mang theo bikini vì chúng ta sẽ tắm biển em ạ, mà phải là bikini đấy nhé.
Âm thanh của chú dê chuẩn bị lên đồi mùa xuân. Dực rùng mình ớn lạnh. Ngây ngấy trong xương tuỷ, trong linh cảm vốn dĩ quá nhạy của mình. Dực phải ra phố, Dực phải đi sắm nhiều chiếc mũ. Tóc Dực sắp rụng hết rồi. Dực phải đi mua thật nhiều quan tài. Huế kinh thành chỉ có quan tài màu vàng, không có màu lông chuột. Dực phải giữ mỗi sợi mang về khu vườn hoang hoa dại rực lên màu trưa một ngày sắp chuyển sang đông.
Nhơm nhớp, hôi hám, màu vàng vọt chuồng tiêu nông thôn. Ngài Thứ trưởng có bộ răng vàng nhởn vũ phu thích nắm tóc Dực kéo ghì xuống. Lạ thay, bàn tay chuối mắn của ông ta không làm hư được sợi nào của Dực. Hực lên khát thèm, hực xuống nhầy nhụa, tích tắc mông muội. Dực chẳng cảm thấy bão giông, chẳng thấy xói mòn đất đai hạt mầm. Chỉ những cơn buồn nôn ói thốc hôi thối. Móc họng chảy máu, chỉ có đôi mắt cô gái 27 đang nhìn Dực chăm chăm trong gương với vài ba sợi tóc thưa thớt trắng nhầy nhầy. Sợi, sợi bay xuống chân cô, xuống sàn nhà tắm.
- Sao em suốt ngày cứ đội mũ thế? Bỏ mũ ra em sẽ xinh hơn đấy em yêu ạ.
Âm sắc hồng tươi. Người đàn ông yêu Dực nồng nàn.
- Nhưng tóc em xấu, em đội mũ để che đi.
- Tóc em hơi mỏng nhưng đen óng và rất đẹp. Sao em lại không để mọi người thưởng thức?
Dực đưa những ngón tay thon ve vuốt đôi mắt anh kinh hãi. Dực đã rụng gần hết tóc, anh ấy lại nói tóc Dực đẹp? Hôm qua Mẹ Âu Cơ bảo Dực là không khéo Dực bị ung thư. Ung thư, máu trắng nên mới rụng hết tóc. Dực cần phải đi bác sĩ.
Anh từ từ gỡ bỏ chiếc mũ trên đầu Dực. Anh hôn mắt, môi, từng phân vuông thân thể Dực. Lạ thay, tóc Dực mọc trở lại trong nỗi đê mê, Dực nhìn thấy.
- Anh rất yêu em Dực ạ. Cuối năm nay, tháng 12 chúng mình sẽ làm đám cưới, em sẽ là vợ anh Dực nhé?
Ôi, tiếng anh mầu hồng, tiếng anh mầu thiên thanh, tiếng anh mầu hạnh phúc. Tóc Dực dày quá, tóc Dực đen quá, tràn trề thanh xuân như ngực như mông Dực. Tràn trề ánh sáng cứu rỗi, lảnh lót tiếng hát ngợi ca tình yêu vĩnh cửu. Tiếng hát cô ca sĩ Dực đã từng nghe một lần anh sẽ cưới vào tháng 12.
Qua tháng 12. Năm nay trời rét buốt, có cả tuyết rơi. 5 giờ chiều Dực lại cho bác sĩ quan già nuốt nước bọt. Thứ Sáu, đều đều thời gian tí tách. Dực đi về vườn hoang. Dực đội mũ len thật dầy. Gió kim châm, máu chảy ra từ những chân tóc lỗ chỗ. Đêm qua Mẹ Âu Cơ có vẻ buồn rầu. Chẳêng hiểu có phải ai đó lại làm Mẹ mang thai.
- Bạn đã chôn những sợi tóc ở đâu thì đến lấy về và cấy lại vào da đầu. Bây giờ Thẩm mỹ viện người ta làm được bạn thân mến ạ. Tóc bạn sẽ hồi sinh, bạn làm ngay đi nhé.
Nhập nhoạng khu vườn chiều nay hắt tím những khóm hoa dại. Dực đã chôn ở đây 14 chiếc quan tài, ngàn sợi tóc của Dực. Mẹ Âu Cơ nói phải nhớ thứ tự cái nào chôn trước thì lấy về trước. Làm sao Dực có thể nhớ nổi. Dực cũng không nhớ được vị trí 14 chiếc quan tài. Phải làm thế nào đây? Có âm thanh nào ở đâu đó, rất gần. Dực rẽ lối đi vào khu vườn. Hoa dại nằm rạp xuống. Chẳng có ngọn gió nào thổi tới, hình như trời sắp mưa. Tiếng nói, tiếng nói đâu đó vọng, vọng, thấu, thấu linh hồn Dực. Dực phải tìm ra vị trí 14 ngôi mộ, linh hồn Dực bảo thế. Có cái gì đó đâm vào chân Dực như mũi kim châm, như tiếng phựt trong nhà ông Giáo sư, như nhờ nhợ cánh tay đụng chạm của Thức, như kinh tởm cái nhìn ông anh họ vào vú Dực. Những cánh hoa lạ, một bông hoa lạ. Trắng pha đen pha vàng pha lông chuột pha diệp lục mỗi cánh mỗi mầu. Dực kinh ngạc đưa tay ôm ngực định bỏ chạy. Gió, gió ùa tới. Hoa tím khắp khu vườn hoang rạp mình hôn đất. Trước mắt Dực là 14 bông hoa lạ muôn mầu bật lên nỗi độc ác.
Có ai đó, có âm thanh nào đó sau lưng. Dực không dám quay lại. Gió hất tung chiếc mũ len của Dực. Lạnh luồng tử khí. Cùng lúc với một cái phát mạnh vào mông là một bàn tay bóp mạnh vú Dực. Run rẩy, quờ quạng, lốc xoáy. Bàn tay bóp bung sữa trắng xoá. Sữa của Dực, của đam mê, của uẩn ức. Vang lên điệu cười khanh khách sau gáy Dực. Dực quay lại. Người đàn bà rách rưới quanh năm mưa nắng bão bùng vẫn đội chiếc mũ màu đen và ngồi trước cửa khu vường hoang này. Bà ta bóp mạnh vú Dực, sữa không ngừng tuôn ra. Dực bấn loạn, bấn loạn 16 tuổi trong nhà ông Giáo sư. Phía dưới bụng Dực đang chảy. Sữa đang chảy khắp người Dực. Tràn khắp mênh mông, ngập sàn gạch hoa nhà ông Giáo sư, nghẹn họng cong lưỡi ngài Thứ trưởng. Cuồng phong ầm ầm. Trong ánh chớp, Dực nhìn thấy mái đầu trọc của người đàn bà chỉ trơ lại duy nhất cọng tóc muôn mầu khi chiếc mũ len rơi xuống.
 | Đói | Feb 9, '09 1:45 AM for everyone |
 Một cơn gió lọt vào làm Sinh tỉnh giấc. Anh ta thấy cái hơi lạnh của mùa đông thấm qua lần chăn mỏng, và thấy người mệt mỏi vì suốt đ êm đã co quắp trên chiếc phản gỗ cứng.
Sinh cuốn chăn ngồi dậy. Thế là, cũng như những buổi sáng khác, một cái buồn rầu chán nản, nặng nề ở đâu đến đ è nén lấy tâm hồn.
Những đồ vật quanh mình ẩn hiện trong bóng tối lờ mờ khiến Sinh lại nghĩ đến cái cảnh nghèo nàn khốn khó của chàng. Một cái bàn con xiêu vẹo bên góc tường, một cái chõng tre đã gẫy dăm ba nan, một cái ấm tích mất bông và mấy cái chén mẻ, nước cáu vàng... Trong cùng, một cái hòm da, dấu vết còn lại, của cái đời phong lưu độ trước...
Tất cả đồ đạc trong căn phòng chỉ có thế. Mà đã lâu lắm, quanh mình Sinh vẫn chỉ có những thứ đồ tồi tàn ấy, đã lâu lắm chàng đến ở cái căn phòng tối tăm, ẩm thấp này. Những ngày đói rét không thể đếm được nữa. Tiếng gió vi vút qua khe cửa ban đ êm chàng nghe đã quen, cả đến cái mệt mỏi lả đi vì đói, chàng cũng đã chịu qua nhiều lần rồi.
Sinh thở dài. Chàng nhớ lại cái ngày bị thải ở sở chàng làm, cái giọng nói quả quyết và lạnh lùng của ông chủ, cái nét mặt chán nản, thất vọng của mấy người anh em cùng một cảnh ngộ với chàng... Từ lúc đó, bắt đầu những sự thiếu thốn, khổ sở, cho đến bây giờ...
Một tiếng guốc ngoài hè làm cho Sinh ngẩn lên trông ra phía cửa: vợ chàng về. Nàng vén cái màn đỏ treo ở cửa bước vào. Sinh thoáng trông cái thân hình của vợ in rõ trên nền sáng, một cái thân thể mảnh giẻ, gầy gò trong chiếc áo the mỏng phong phanh. Cảnh tượng ấy làm cho chàng xót thương...
Vợ chàng đi lại cạnh giường, yên lặnh nhìn Sinh không nói gì.
Sinh vơi lấy tay nàng kéo xuống bên mình, âu yếm hỏi :
- Em đi đâu mà sớm thế?
- Em lại đằng bà Ba ở cuối phố vay tiền.
Thế có được không?
Vơ Sinh nhìn chồng, thở dài lắc đầu :
- Ai cho chúng mình vay bây giờ. Bà ấy còn nhớ đâu đến khi trước vẫn nhờ vả mình.
Sinh buồn rầu, nói một cách chán nản:
- Thói đời vẫn thế, trách làm gì. Nhưng bây giờ làm thế nào?
Chàng nghĩ đến cái thạp gạo đã hết, mà trong túi không còn được một đồng xu nhỏ... Đã hai hôm nay, chàng và vợ chàng thổi ăn bữa gạo cuối cùng, đã hai hôm, cái đói làm cho chàng khốn khổ...
- Làm thế nào?
Vợ chàng nhắc lại câu hỏi ấy, rồi cúi mặt khóc. Một mối tình thương tràn ngập vào trái tim chàng như một làn sóng mạnh. Sinh nắm chặt lấy tay vợ ôm vào lòng, đắm đuối, thiết tha. Chàng chỉ muốn chết ngay lúc bấy giờ để tránh khỏi cái nghèo khốn khó, nặng nề quá, đ è ở trên vai...
Buổi chiều đến đem theo những cơn gió lạnh lùng. Sinh bắc ghế ra cái hiên nhỏ trước cửa phòng, tựa vào bao lơn nhìn xuống nhà... Chỗ chàng thuê ở là một căn nhà hẹp và dài, chia làm nhiều phòng. Mỗi gian phòng là một gia đình che chúc ở, toàn là những người nghèo buôn bán ở các nơi.
Giờ này là giờ họ làm cơm. Trong thấy họ tấp nập làm lụng, Sinh lại nghĩ đến cái bếp nhà mình bây giờ vẫn còn tro lạnh, chàng lại lo không biết vợ đi từ sáng đến giờ sao mãi không thấy về, mà về không biết có đem cái gì không, hay lại chỉ một mối thất vọng như nhiều lần... Nghĩ đến, Sinh lại đem lòng thương, thương người đ àn bà xưa nay vẫn quen thói đ ài điếm phong lưu, mà bây giờ phải chịu khổ vì chàng... Hai bên gặp gỡ nhau trong một tiệc rượu dưới xóm cô đầu. Hồi ấy, chàng còn là một người có việc làm, còn là một người có lắm tiền. Quen biết nhau, rồi yêu mến nhau, chàng đã chẳng quản sự ngăn trở của nhà lấy nàng về. Đôi vợ chồng đã cùng nhau sống những ngày sung sướng, ái ân, những ngày còn để lại trong trí chàng một kỷ niệm êm đềm, mà mỗi khi nghĩ tới, chàng không khỏi bồi hồi. Rồi sự nghèo nàn đến, đem theo những cái nhọc nhằn, khổ sở, đem theo những ngày đói rét.
Tuy vậy, sự khổ sở chàng nhận thấy không làm cho vợ chàng bớt tình yêu đối với chàng. Cũng vẫn nồng nàn, đằm thắm như xưa, cái ái tình của đôi bên chỉ có thêm màu cay đắng vì xót thương nhau.
Cái hình ảnh một thân thể yếu đuối, mảnh giẻ in trên nền trời sáng buổi sớm mai lại thoáng hiện ra trước mắt Sinh. Chàng nhớ lại cái thất vọng không vay được tiền, đôi con mắt buồn rầu, đắm đuối nhìn chàng như ngụ biết bao nhiêu âu yếm, bao nhiêu hy sinh.
Một cơn gió đến làm cho Sinh thấy lạnh buốt tới xương. Chàng thấy đói, một sự đói vô cùng như trong đời chàng chưa thấy bao giờ. Đói như cào ruột, làm người chàng mệt lả đi, mắt hoa lên, trong vật gì cũng lờ mờ như lay động.
Khi còn đủ ăn, đủ mặc, chàng không hề để ý đến cái đói, không bao giờ nghĩ đến. Bây giờ chàng mới được hiểu biết cái đói như thế nào. Chàng rùng mình khi nghĩ đến trước cái mãnh liệt của sự đói, chàng cảm thấy sự cần dùng của thân thể tràn áp đuợc hết cả những lệ luật của tinh thần.
Mùi xào nấu đồ ăn ở dưới sân nhà đưa lên làm cho chàng khó chịu vô cùng. Sinh cúi đầu trên bao lơn nhìn xuống xem họ làm bữa cơm chiều. Các thức ăn tuy tầm thường, nhưng Sinh lấy làm lạ rằng chàng chưa bao giờ thèm muốn những cái đó như chàng thèm muốn bây giờ. Mấy miếng đậu vàng trong chảo mỡ phồng dần trên ngọn lửa, mấy con cá rán bắt đầu cong lại làm cho chàng ao ước đến rung động cả người...
Không bao giờ chàng thèm muốn như bây giờ cái miếng ăn kia.
Trước kia, khi nghe chuyện người ta tranh giành nhau vì miếng ăn, chàng vẫn mỉm cười khinh bỉ. Chàng cho rằng miếng ăn là một sự không đáng kể, chỉ có cái thanh cao trong sạch của linh hồn mới là cần. Nhưng bây giờ, trong cái phút đói này, chàng mới thấy rõ cái cần mạnh mẽ của miếng ăn là thế nào.
Và chàng, trước kia phong lưu trưởng giả, trước kia khi đi qua đám bình dân bẩn thỉu và nghèo nàn này, chàng vẫn khinh và tự hỏi không biết họ sống để làm gì, sống để mà khổ sở, để mà đói rét, không biết sống đối vơi họ có ý nghĩa gì mà còn ham mê quyến luyến. Bây giờ chàng lại ao ước được một miếng ăn như họ để sống qua cái rét mướt bây giờ...
Một bàn tay nhẹ nhàng để lên trên vai Sinh quay lại, vợ chàng tươi cười, giơ ra trước mặt mấy cái gói giấy bóng, gọn gàng, sạch sẽ, mà chàng thoáng trông, Sinh cũng nhận biết ngay là những thức ăn được, mà rất ngon, ở các hiệu tây mới có. Mùi thịt ướp và mùi giò thoang thoảng đưa qua. Sinh rung động cả tay khi lần cởi những giây buộc chung quanh. Chàng sung sướng hỏi:
- Ồ;! Ở đâu thế này? Em Mai lấy tiền đâu mà mua thế?
Mai nghe Sinh hỏi:
- Anh cứ ăn đi đã! Ăn cho đỡ đói, rồi em kể chuyện cho anh nghe. Thật là may quá, mà cái bà ấy thực phúc đức quá, anh ạ...
- Ai thế? Kể đi cho anh nghe.
Mai âu yếm nhìn chồng:
- Không, anh cứ ăn đi đã kia. Vừa ăn, em sẽ vừa nói chuyện...
Rồi nàng nhanh nhẹn đặt mấy cái gói giấy lên bàn, mở những tờ giấy bọc ngoài. Sinh nhìn thấy mấy miếng thịt ướp hồng hào, mỡ trắng và trong như thủy tinh, mấy khoanh giò nạc mịn màng, mấy cái bánh tây vàng đỏ...
Mai cất tiếng vui vẻ:
Thế này nhé, em ở nhà đi cũng là đi liều chứ thật không biết đến nhờ vả ai được. Anh còn lạ gì các bạn hữu bây giờ: họ thấy mình nghèo khổ, thì ai người ta giúp, vì có mong gì mình trả lại người ta được. Vì thế em mới lang thang ngoài phố, nghĩ lúc bấy giờ cực thân quá, anh ạ, chỉ muốn đâm đầu xuống sông cho rảnh... May quá, vừa lúc ấy, lại gặp ngay bà Hiếu, một người quen biết từ trước. Bà trông thấy em, vồn vã hỏi han như người bắt được của...
Mai nói nhanh, liếng thoắng:
- Bà tử tế quá... Cho em vay tiền, lại còn hứa giúp vốn để em buôn bán nữa. Rồi nay mai, em đi buôn cau, anh nhé. Thật không ngờ có bà biết thương người đến như thế...
Sinh sung sướng:
- Nếu không thì chúng ta đ ành nhịn đói ngày hôm nay. Nhưng sao em mua hoang thế này?
Mai cúi đầu cười, hai má đỏ hồng, mấy sợ tóc rối tung trên trán càng tăng thêm vẻ kiều mỵ của nàng.
Nàng thò tay vào trong túi áo, rút ra một tập giấy bạc, vứt ra trước mặt Sinh rồi nhanh nhẹn vui vẻ bước vào trong nhà.
- Anh đợi em một lát, em đi lấy dao cắt bánh.
Nàng quay lưng đi, Sinh chợt trông thấy trên mặt đất một mảnh giấy gấp rơi xuống đất. Chàng vô tình cúi xuống nhặt lên mở ra đọc:
Em Mai,
Đây, anh đưa em số tiền anh đã hẹn. Em muốn lấy nữa, anh sẽ cho em nốt, nhưng thế nào tối nay em cũng phải đúng hẹn đến đấy, anh đợi...
Tờ giấy trên tay Sinh rơi lúc nào chàng cũng không biết. Một cái sức nặng nề như đ è nén lấy quả tim, làm cho chàng ngừng thở. Hình như một giây phút, bao nhiêu cái hy vọng sung sướng của đời chàng tan đi mất.
Sinh tưởng có thể chết ngay trong lúc ấy. Cái đau đớn chàng cảm thấy thấm thía, và sâu xa quá.
Còn mong gì đó là một sự không thật, một giấc mộng nữa. Không còn phải ngờ vực gì, cái số tiền kia chính là cái số tiền bên trong thư này. Ai cho vay mới được chứ! Sinh nhớ lại những ngày đi hỏi tiền, những buổi trở về thất vọng và buồn rầu, những lời tha thiết và oán hờn của vợ chàng kể lại, về cái lãnh đạm, hững hờ của những người nàng quen biết. Bà Hiếu là bà nào! Chẳng qua là một sự bịa đặt ra để che mắt chàng.
Sinh thấy cơn giận dữ nổi lên mãnh liệt trong lòng, đôi môi chàng tự nhiên nhách lên một cách khinh bỉ, chàng run người lên, khẽ rằn từng tiếng:
- Đồ khốn nạn.
Quả tim buốt như có kim đâm. Sinh nắm chặt lấy thành ghế, nhìn cuốn bạc giấy để trên bàn, nhìn gói đồ ăn đang mở dở rồi cúi mình xuống nhặt tờ giấy gấp lên.
Một lát, yên lặng. Rồi Sinh nghe rõ tiếng tấm màn vải ở cửa vắt lên trước gió, tiếng dép đi nhẹ nhàng, gần đến bên chàng... Sinh cố hết sức cắn môi để đ è nén cơn giận dữ đang sôi nổi trong lòng, nắm chặt tay hơn nữa cho khỏi rung động cả người. Tay vuốt nhẹ trên tóc Sinh, vợ chàng đưng sát hẳn ngay bên người. Nàng giở giấy ra, lấy dao cắt bánh, vui vẻ:
- Anh xem bánh này có ngon không? Em mua ở hàng Trống kia đấy. Miếng thịt ướp này là hạng ngon nhất, em đã phải trả đến năm hào đấy, anh ạ. Để em cắt cho anh nhé. Hinh như anh đói lắm thì phải. Em cũng thế. Thôi chúng ta hãy ăn cho no đã, rồi sẽ liệu sau...
Nàng cắt xong miếng thịt ướp, xếp lên đĩa, tươi cười nói tiếp:
- Kìa, anh ăn đi chứ? Thật là may cho chúng mình quá. Nếu hôm nay em không gặp bà Hiếu thì không biết chúng ta làm thế nào nhỉ?
Nàng vỗ vào vai Sinh, lay chồng:
- Làm thế nào? Lại nhịn như mọi hôm, chứ còn làm thế nào nữa, anh Sinh nhỉ! Anh nên cám ơn bà ta đi. Bà thật là một người tốt, hiền hậu biết thương người. Em vừa mở miệng hỏi, thì bà đã lần ruột tượng đưa ngay cho em 15 đồng tất cả đấy, anh ạ... Cuốn giấy bạc anh chưa đếm à? Em không nói dối anh đâu.
Cái giận của Sinh lên đến cực điểm: chàng không nén nổi nữa. Cái tên bà Hiếu làm chàng uất ức, vì chàng rõ những nhời giả dối của vợ chàng, giả dối một cách khôn khéo, tự nhiên như thật vậy... Mai lại đến nỗi như thế ư? Đôi mắt trong, cái khuôn mặt hiền hậu như thế kia không ngờ lạicó thể giấu được những sự tối tăm như bây giờ...
Vùng mạnh cánh tay, Sinh hất Mai ra xa như người ta hất một con vật đáng ghê sợ. Mai lảo đảo lùi lại sau ngã dúi vào tường, vành khăn tung, tóc xổ. Nàng giương to con mắt ngạc nhiên nhìn chồng:
- Ô hay! Anh làm sao thế?
Sinh cất tiếng cười, hai hàm răng rít lên, cái tiếng cười ghê gớm như tiếng cười của một người điên:
- Làm sao à? Cô lại còn hỏi tôi tại làm sao nữa... Thôi, đừng vờ đi, đừng giả dối nữa...
Sinh mở bàn tay giơ ra tờ giấy gấp đã nát nhàu:
- Thế cái giấy gì đây mới được chứ?
Mai trông thấy mặt xám đi, hai tay ôm lấy đầu, người run lẩy bẩy. Giọng nói của Sinh càng thêm vẻ chế riễu, mỉa mai, chua chát:
- Bà Hiếu tử tế đấy! Úi chà! Nào là bà ấy tử tế, nào là thương người, nào là hiền hậu... Sao không nói, bà ấy hẹn đến đ êm nay lại đến nữa.
Mai cúi đầu ôm mặt khóc nức nở. Cái tiếng khóc ấy không làm cho Sinh bớt giận, lại chỉ làm tăng thêm lên như ngọn lửa đổ thêm dầu. Càng nói Sinh lại càng thấy cái giận như sôi nổi, bồng bột trong lòng. Mai sợ hãi nép vào tường, thổn thức, ngập ngừng, khẽ gọi:
- Anh Sinh... Anh...
Sinh như không nghe thấy tiếng, nói luôn:
Cô còn khóc làm gì nữa... Cô đi ngay đi, đi ra khỏi cái nhà này, tôi không muốn thấy mặt cô một phút nào nữa. Cô cầm lấy cái này...
Sinh giơ tay vơ cuốn giấy bạc trên bàn ném mạnh vào người Mai; giấy bạc tung ra rơi lả tả trên thềm. Chàng hất cả mấy gói đồ ăn xuống đất, những mẫu bánh, miếng thịt bắn tung tóe dưới bàn...
- Không ai thèm ăn những thứ khốn nạn này!
Rồi chàng mệt nhọc ngả người trên ghế, hai tay dây mỡ ôm lấy trán, không để ý đến Mai đang sợ hãi giơ tay về phía chàng cầu khẩn, van xin. Rồi nàng nấc lên khóc, kéo vạt áo che mặt, đi ra phía ngoài.
Sinh cúi đầu ngẫm nghĩ, cái giận dữ đã tan đi, đểlại một nỗi buồn rầu chán nản vô cùng. Sinh thấy trong lòng nguội lạnh, một cảm giác lạnh lùng như thắt lấy ruột gan. Nghĩ đến những ngày đói rét khổ sở đã qua, đến mấy năm sống trong cảnh nghèo nàn, Sinh uất ức căm giận cho cái số phận của mình. Nhưng tại sao lại có thêm một sự đau đớn nữa? Tại sao Mai trước kia đã từng bao phen khổ sở cùng chàng, đến bây giờ đem thân bán đi lấy một vài đồng bạc, tại sao Mai lại làm sự khốn nạn như giờ...
Bao nhiêu đau đớn trong tâm can làm Sinh thổ thức, nghẹn ngào. Quả tim không đủ chứa nổi nỗi đau thương, Sinh gục xuống bàn.
Một cơn gió hắt hiu thổi đến làm cho chàng rùng mình. Bỗng nhiên tất cả người chàng chuyển động: chàng vừa thoáng ngửi thấy cái mùi thơm và béo của những miếng thịt ướp mỡ còn dính ở tay.
Cơn đói lại sôi nổi dậy như cào ruột, xé gan, mãnh liệt, ác hẳn cả nỗi buồn. Chàng muốn chống cự lại, muốn quên đi, nhưng không được, cái cảm giác đói đã lan ra cả khắp người như nước triều tràn lên bãi cát. Mỗi lần cơn gió, mỗi lần chàng ngửi thấy mùi ngậy béo của miếng thịt ướp, mùi thơm của chiếc bánh vàng, mũi Sinh tự nhiên nở ra, hít mạnh vào, cái mùi thơm thấu tận ruột, gan, như thấm nhuần vào xương tủy.
Sinh cúi xuống nhìn gói đồ ăn tung tóe dưới bàn, chàng lắm lét đưa mắt nhìn quanh, không thấy Mai đứng đấy nữa... Khẽ đưa tay như ngập ngừng, sợ hãi, Sinh vớ lấy miếng thịt hồng hào.
Sinh ăn vội vàng, không kịp nhai, kịp nuốt. Chàng nắm chặt miếng thịt trong tay, nhây nhớp mỡ, không nghĩ ngợi gì, luôn luôn đưa vào miệng...
Trong gói giấy, đồ ăn đã hết, chỉ còn những cái vụn nhỏ dính trên mặt giấy bóng mỡ. Sinh thấy nóng ran trong bụng. Chàng ưỡn người ra đằng sau khoan khoái thở dài. Nhưng chàng nhớ lại bức thư, cuốn giấy bạc, nhớ lại tiếng khóc thổn thức của Mai nép bên tường, nhớ lại những lời khinh bỉ, mỉa mai, chua xót. Chàng nhớ lại nỗi uất ức, đau đớn của mình...
Một cái chán nản mênh mông tràn ngập cả người. Sinh lấy hai tay ôm mặt, cúi đầu khóc nức nở. Thạch Lam  1.
Sáng nay khi tỉnh dậy, nàng đã thấy gần 6 giờ sáng. Nhìn qua khung cửa sổ lớn cuả căn phòng, trời ẩm đục một mầu suơng trắng và buồn. Sương mù trắng xoá cả không gian, sương mù chắn tầm mắt không cho nàng nhìn suốt được tới cuối khu vườn rộng. Trời đã vào cuối tháng Năm, sáp qua tháng Saú, nhưng nơi naỳ vẫn còn lạnh, nàng vẫn phảỉ khoác thêm chiếc aó khoác mỏng khi đi ra ngoài. Nàng vẫn thích mặc loại nhung mềm và rủ, ôm lấy thân hình khiến người trông như thanh hơn. Từ ngày xưa , nàng vẫn thích nhung hơn gấm, nàng đã ví vẻ đẹp của loại hàng này coi thật nhu mì, đằm thắm, dù ngay cả với những mầu lộng lẫy nhất, vẫn là cái vẻ đẹp kín đaó, lôi cuốn như những cơn sóng ngầm, khiến người nhìn ngắm không thể rời mắt. Gấm thì như một cô gái đẹp lộng lẫy, mà không duyên, như loài hoa có sắc mà không huơng.
2.
Ngày…….Tháng…….
Anh yêu nhất đôi môi hồng. Yêu đôi mắt say mơ…Anh yêu tóc em buông buông daì…Yêu tình ngất ngây… anh yêu tiếng ca êm đềm…khẽ hát câu dịu dàng….
Hứ ! Anh ăn gian, ăn gian ! không fair , không fair. G ghét anh, ghét ! ù. G gửi cho anh cái tape, có bài G hát, nay anh chép tặng G bản nhạc Yêu và Mơ của Văn Phụng, và gủi G cái tape do Tuấn Ngọc hát nữa, anh nói G nghe bản nhạc này, sẽ biết anh muốn nói gì với G..v…v…Anh đâu có mute nhỉ, anh cũng biết hát , anh chả từng khoe với G ngày xưa anh cũng hay hát trong các buổi họp sinh viên ở VN xa xua mà. Ngoài ra anh còn chơi piano giỏi nữa, Ðáng nhẽ anh phải đáp lễ laị G bằng cái tape thâu anh độc tấu bản nhạc này chứ, ít ra như thế anh mới chỉ ăn gian có phân nửa thôi hi`..hi`.., Văn Phụng viết nhạc và lời, anh gõ piano, thì anh cũng có chút công. G nhất định đợi bao giờ anh gửi cái tape thâu anh độc tấu bản nhạc này tặng G thì G mới nghe nhiều hơn. Và mới viết cho anh dài hơn. Bây giờ Gío bắt chước nhà văn Frank Kafka , , thần tượng của anh , người có tài viết văn ngắn nhất. ha...ha...là G sẽ ngừng thư đây. Thư này còn hơi dài rồi đó. Ghét anh, ghét! Gio
3.
Như mọi sáng, nàng vẫn lái xe theo con đuờng thân quen, con đuờng cong chạy dọc theo dòng sông uốn lượn cắt ngang thành phố, Những ngày trời quang đãng, nắng lấp lánh trên mặt sông, nắng sớm soi mình xuống mặt nuớc lặng sóng như một tấm gương dài khủng lồ uốn lượn. Những con ngỗng trời dậy trễ, nằm ngủ yên trên sông, trông từ xa giốàng như những chiếc giầy cũ cuả Charlo liệng trên con đuờng loang loáng nuớc mưa .
Hôm nay trời vẫn ẩm đục, sương mù trắng như sữa, sương mù phủ xuống con sông quạnh vắng buồn bã như tâm hồn nàng lúc này. Những con ngỗng trời vẫn nằm ngủ yên , trông từ xa giống như những đôi giầy cũ mốc bị bỏ quên.. Người ta không nhìn thấy nuớc, người ta chỉ nhìn thấy một biển suơng trắng mỏng mênh mông. Người ta chỉ nhìn thấy không gian như được bao trùm bằng màn voan mỏng mơ màng như tấm aó thần nữ trong những bức danh hoạ nổi tiếng xa xưa. Nàng tưởng tượng nếu mình đuợc đi trong vùng sương mù đó, ừ nhỉ, nếu mình.
Nàng đã đi trong biển sương mù từ lâu, nàng đã lạc trong trong đó từ lâu lắm rồi nàng vẫn đi tìm .,đi tìm ...một cáí bóng ! Một tuyệt đối.
4.
Ngày...tháng...
.Này cô bé ơi..này cô bé ơi..cho tôi yêu em nhé....tôi đứng ngây nhìn., em tha thướt kiêu sa. má hây hồng, má hây hồng … thơm hương tình ngây ngất, đây nụ hôn nồng xin dâng bé bản tình ca, một trời yêu mênh mang trong nỗi nhớ, quay quắt buồn khi vắng bóng em thơ, tình đắm say dâng em xin đừng từ chối, cho tôi yêu mê cuồng cô bé ở trong mơ. ( 2)
Anh, Anh lại ăn gian nữa rồi, anh lại kiếm đâu đuợc bản nhạc ø hay này để gửi tặng G. bài thơ thật dễ thương quá nhỉ, và ông nhạc sĩ Vũ Ðức Nghiêm phổ bản này thật tuyệt, G nghe mai~ không chán, Anh cũng gửi cho G luôn cả bản nhạc viết nữa, thế anh quen nhạc sĩ hả? Anh khoe baì thơ là cuả một thằng bạn cũ hồi xưa học CVA. Well, mấy ông CVA này giỏi ghê đi, nhưng…nhưng …không có anh đó nhé, vì anh toàn cọp dê bài cuả thiên hạ gửi cho G không hà, Anh than anh không biết làm thơ như mấy tên bạn đó , vậy có cần G cắt bài thơ Gío mới đọc được trên báo để gửi dùm anh tới…Gío không? Hi…hi…. Bảo đảm anh mà vớ đuợc bài này, sẽ xé ngay mục có bài thơ và nhét bao thư tặng G với lời phụ đề: bài thơ nói dùm anh !!! Vậy bây giờ G gửi cho anh xem có đúng tâm trạng anh không nhe’, hi…hi…
Anh không biết làm thơ Vì thế em hững hờ Viết vu vơ vần điệu Gửi đi rồi ngẩn ngơ
TG
Ðúng tâm trạng anh không nàò? Ghét anh thật rồi đó Gío
5.
Nàng nhìn giòng nuớc cuồn cuộn cuốn xoáy chợt nghĩ sao giống như cơn giận dữ của những kẻ mất trí, đã để những nghi kỵ ,thù hận làm biến đổi tâm tính, sự nóng giận giống như cơn thác lũ, xô bạt mọi thứ, làm tan hoang , phá vỡ mọi tốt đẹp xây dựng từ bao năm. Nàng bỗng thấy giận ghét con nước, nhưng khi đứng trên bờ sông lồng lộng gió, nàng lạị tự hỏỉ, tại sao cơn giận tức cuả loài người không giống như con lũ naỳ, hãỹ để hết giận hờn, thù ghét trôi theo dòng nuớc, trôi hết đi, chảy ra biển khơi, có phảỉ lòng ta thanh thản? Sao người ta không thể làm thế được? mà lại muốn hành hạ nhau, muốn giết chết nhau vì những lời cay độc? Sao có thể tàn ác như thế? Nàng lắc đầu thở dài và lẩm bẩm: Nếu nghĩ như ta đang nghĩ bây giờ chắcé đã không có phiền muộn, chắc trên đời đã không có chiến tranh, đã không có những tranh chấp, đã không có những án mạng vì.... Nàng bỗng nhớ bàì nào đã nghe được một lần: Ta lần mò leo mãi, không qua được vách sầu, ta tìm một tiếng yêu, thấy toàn là sầu đau. Ước vọng ngày thơ ấu chưa xin được chút nào. Suốt đời còn ước ao, khát vọng còn cấu cào. Ôi thôi đời ta phung phí trong cơn buồn phiền. Ta xin tháng ngày rồi bình yên. Ô hay tại sao ta sống chốn naỳ quay cuồng mãĩ hoài có gì vui....(3)
6.
Ngày …tháng…..
Anh,
A ha ! hôm nay trời đi vắng hay sao nên anh không gửi thơ hay nhạc cho G nữa, mà lại gửi cho G xem mấy bức tranh in của danh hoạ Chagall. Anh nói anh mê tranh cuả Chagall, nên tranh anh vẽ cũng ảnh hưởng nhiều , anh nói anh nhìn thấy Gió giống như những nhân dáng phụ nữ trong tranh của nhà û danh họạ này mà anh mêø, anh yêu nét huyền thoại ,mầu aó trắng như sương và mái tóc dài liêu trai cuả những người con gái trong tranh. Hứ, G không muốn mình bị biến thành ma đâu đó nhé. Mà G thấy tranh cuả ông hoạ sĩ người Nga naỳ cũng hơi kỳ quái thật, hơi ...hơi giống…anh, hơi có vẻ tốc , hì…hì… May là anh ở xa G ngàn dặm, chứ nếu có anh ngay bên cạnh thì G đã bị anh ký cho sưng đầu rồi! Thế hai bức chân dung anh vẽ cho G đã gần xong chưa? Anh hưá tặng G tháng Năm , giờ gần hết tháng rồi G vẫn chưa thấy đâu. G đang sốt ruột chờ coi bức tranh G với aó trắng mỏng như suơng mù sắp tan , đi trong rừng hoa sẩu đông tim tím, còn bức thứ hai G nghe anh tả đã thấy thích rồi, anh nói đã vẽ G trong cái hình ảnh của giấc mơ hôm nào anh mơ thấy Gío với khăn quàng mầu blue colbat, trên biển đêm vắng người, chỉ có hai ta và ngọn lửa, ngọn lửa thắp sáng không gian hay thắp sáng tim mình khi đó ? Bao giờ G nhận được tranh mới nói chuyện tiếp với anh, G ghét anh trễ hẹn, thất hưá, G sẽ gọi anh là chú cuội cho bõ ghét! Thôi không thèm viết nữa, ghét. HằngNga,( hì…hì…)
7.
Mấy hôm nay trời lại mưa, đài khí tuợng trên TV baó sẽ có những cơn mưa dai dẳng và lớn như giông bão. Nàng cũng mong mưa. Mong một tươi mát đến với tâm hồn. Nàng thấy những cơn mưa như gần gụi với mình lắm, như mang lại một kỷ niệm xa xưa nàò thân yêu trong quá khứ. Mưa không không ướt aó, mưa chỉ làm đẹp thêm những hàng mi cong . Nhưng mưa hôm nay không phảỉ là những cơn mưa bụi, để có thể khoác chiếc aó mưa rộng thùng thình đi dầm dưới mưa như ngày naò Mưa hôm nay đổ xuống như thác lũ, mưa quật tơi tả những cành cây như sự trừng phạt nào đến từ trời đất, mưa làm các cành lá cây trong vườn oằn hẳn xuống vì sức nặng cuả nước xối lên chúng mo^.t cách tàn nhẫn, không nương, dù với hoa với lá.
8.
Ngày …tháng…
Anh,
Anh có thích mưa không? Nơi anh ở muà naỳ có mưa như nơi G ở ? G vẩn nhớ anh kể trên anh có một con phố, con phố lát gạnh như bên Âu Châu, Những viên gạch đỏ xinh xắn đuợc màì bóng bởỉ thời gian qua bao nhiêu năm tháng, nhưng con đường này độc đáo vì có nhiều cây anh đaò, trồng kín cả hai bên đừờng, anh đã bị mê hoặc vì một hôm đi lạc đến nơi đây và gặp ngày có gió lớn, làm hoa rụng lả tả như trận mưa hồng, Ô đẹp quá anh nhỉ, anh hứa dẫn G đi coi con đường đó một ngày thật gần, khi mà mùa hoa nở rộ. Bây giờ đã qua xuân, chắc hoa không còn nữa , buồn! G ghét năm nay anh ôm đồm bao nhiêu là việc, bữa trứơc G đã tha tội cho anh vì bây giờ anh có ít giờ đi cho G bởi mấy căn nhà cần phải giao đúng thời hạn cuả giao kèo đã ký. G đã nói rồi, G không cần anh làm giàu, phải biết anh trước, G đã không cho anh quit cái job kỹ sư đã làm trên mười hai năm. Anh nóí anh chỉ cần một năm xây hai, ba căn nhà như căn đang làm đây là dư hơn số tiền lương một năm cuả kỹ sư thâm niên trên 10 năm vì thế mà anh bỏ job cũ. Anh cứ tham làm giàu, ghét! Ghét! A, thế căn nhà G giao cho anh vẽ đồ án cho G anh đã làm xong chưa? Thôi ghét, không thèm nói nữa. Gío
9. Hôm nay nàng đội mưa ra xe, nàng vẫn muốn một mình lái xe dọc theo con đuờng ven sông. Bên kia giòng sông là một khu công viên lớn chạy dàì thi đua với con sông, công viên lớn như một rừng bách thảo. Cơn mưa hôm nay to, cũng ào nước, nhưng không hung bạọ như những cơn mưa mấy hôm trước. Nàng dừng xe ở một khúc quanh, và yên lặng ngắm cảnh vật, con đuờng để chạy bộ ven sông bên kia bờ chìm trong màn nước, nàng nhớ đến hai người đã hò hẹn, sẽ có một ngày anh đến nơi này từ bao chuyếàn bay để chạy bộ với nàng như thói quen mỗi chiều: Anh chạy nhanh lắm đó, sợ em không đuổi kịp anh đâu, rồi anh cười và đuà: Ngaỳ xưa hồi bé, mỗi lần đánh nhau, gặp tụi du côn lớn xác, anh đánh không lại là chạy, anh chạy nhanh như lực sĩ điền kinh, nên chúng không đuổi kịp rồi anh kể tiếp: Lúc nhỏ đi học cứ bị tụi du côn bắt nạt, tức qua,ù anh mới đi học võ, nhưng khi mình đã giỏi võ rồi thì lại tránh đánh lộn, thường anh chỉ dùng võ để tự vệ thôi Nàng đã nghe bạn anh kể lại, anh có đai nâu nhu đạo, đai đen thái cực quyền, may mà tính anh hiền hoà, chứ nếu không thì .Anh lại giỏi về kiếm thuật nưã, xưa đã đoạt giải một cuộc thi do người Pháp tổ chức cuả “Sẹc” ở VN. .nàng đã đuà baỏ: “Người ta nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, còn anh…” Anh cướp lời cười : “Còn anh thì bá nghệ tinh , nên thân mới linh tinh! “ Nàng biết, bây giờ sức mấy mà ai dám bắt nạt anh, khi đụng vàò một người võ nghệ cùng mình như thế, nàng mỉm cuời thầm nghĩ : Không biết anh giỏi cỡ nào, nhưng anh vẫn thua nàng là cái chắc, chỉ cần nàng nhăn mặt.. cau mày là anh chịu thua ngay, như “gã” ngày xưa đã nói: “ B thua KGB ngay từ đầu mà,…”
10.
Ngày …tháng….
Anh,
O^, anh biết không? Hôm nay G đi cắt tóc, G tính cắt thật ngắn vì G ghét anh quá, mặc dù bao lần G ướm ý anh, anh đã can ngăn không hết lời, anh than nếu G cắt tóc ngắn đi, thì bao nhiêu baì thơ, baì văn, tranh hoạ cho G đã trở thành vô nghiã .Ừ ,G cũng nhớ lời gã dụ khị G xưa kia, khi G kể chuyện sắp cắt tóc ngắn, Gã đã baỏ : “ Nếu G cắt tóc ngằn thì mặt sẽ tròn vo như cái bánh bao Ông Cả Cần, như nhà đang có cưả mà bị gỡ mất cửa , nhà không có cửa thì gió tràn vaò, sẽ làm Gío bịnh (*)…” Sao anh giống gã thế. G ngồi lựa mãi mấy kiểu tóc, G mê máí tóc cắt ngắn cuả cô đaò Audrey trong cuốn phim War and Peace. Cô thợ hớt tóc đã hỏi đi hỏi lại là có chắc là G dám cắt mái tóc dài đẹp này không? Gío can đảm gật đầu, cô ta lùà tay trong tóc G rồi ngần ngừ, hỏỉ lại lần nữa: Hay là tạm cắt thử ngắn ngắn tý chút thôi. Kỳ thật, cô ta cũng giống anh và gã, bỗng nhiên G thấy ngần ngạI rủỉ nhỡ cắt xong mà mình coi không giống ai thì sao đây? Và nhất là khi anh gặp G, sự thất vọng, sững sờ trên nét mặt anh, cứ nghĩ đến thế là Gío chùn ngay ý định nên cuối cùng G bảo: Thôi, chỉ tiả chút cho tóc bớt dầy thôi.vậy. Rốt cuộc Gío thua anh rồi, anh chưa ở gần mà G đã phải nghe lời anh! ghét. Gío
11.
Cũng vẫn một giòng sông, con sông chảy quanh thành phố, con sông chia thành phố thành nhiều khu vực. Con sông và những cây cầu. Nàng yêu những cây cầu đủ mọi lối kiến trúc bắc ngang dòng sông rộng, hình như chúng đã gắn liền vaò những kỷ niệm của bao năm nàng sống nơi đây . Nhiều ngày, nàng bỏ thì giờ nhìn ngắm con sông khi mùa nuớc lên .nước mênh mông như nỗi buồn ta trải rộng từ bao kiếp. Rồi cũng có những ngàỳ nắng lớn, vàò muà nuớc cạn, con sông thiếu nuớc, một nửa bên sông khô nẻ phơi cát trắng như tâm hồn nàng khô nẻ những buồn phiền. Nàng cũng thuờng đứng nhìn con sông rộng trơ ½ là bãĩ cát, nửõa bên kia sông vẫn còn nước, không hiểu khúc đó sâu bao nhiêu, nàng thắc mắc., đã rất nhiềù lần nàng muốn lộị thử xuống, và nghĩ nếu mình có thể đi chân trần qua đuợc bên kia con sông? Nàng muốn lắm, muốn một cuộc thử nghiệm, nhưng… Nàng thường đứng trên bờ với những uớc ao uớc và dutï dè. muốn thử dẵm chân trên lòng cát nóng vì ánh mặt trời, nhưng nàng vẫn sợ một bất trắc, õ nửa phần nuớc sông kia có sâu? Nàng không biết bơi. Có thể nàng sẽ bị ngập nuớc.giống như nàng bị chìm sâu trong nỗi buồn hiện giờ øtrong cuộc sống. Nàng vần ao uớc một cơn mưa dịu mát tâm hồn, ao uớc vẫn là ao uớc. Sẽ có một ngày.. sẽ có một ngàỳ ta sẽ lội xuống, chân trần buớc qua đuợc con sông cạn nuớc, cứ tưởng tượng đến cáí ngày đó, nàng sẽ la lớn: ta đã vượtï đuợc con sông cạn! Niềm ao ứớc vẫn như con sóng trong hồn…và sự dụt dè vẫn làm chân chùn buớc!
12.
Còn ghét nữa hay yêu cô em bé, ghét thật nhiều nhưng cũng lắm thương yêu.anh đoán thế em yêu đừng cười nhe’ ….
Em hay nói ghét anh,ghét mỗi lần thấy G viết ghét anh là anh buồn lắm,anh gửi G bản nhạc này, để khi nào G thấy ghét anh thì cứ gõ piano, chắc chắn em sẽ không dám ghét anh nữa!..
A há, anh chê G mới học đàn, chọc quê G phải không? Ghét! Anh có hối lộ ông thi sĩ và ông nhạc sĩ này không mà sao họ sáng tác giống chuyện cuả hai đứa mình qúa vậy? Ghét! Vẫn ghét như thuờng, nhất định không đổi, anh nói nữa, G càng ghét hơn cho bõ ghét. Gío
13. Thế là đã giữa tháng Sáu, tự dưng bây gìơ nàng bỗng thấy gần gụi với cái tháng này. Mấy hôm nay trời không mưa như hai tuần trước, đất đã bắt đầu khô, con sông phía sau nhà dường như mực nước đã xuống. Mỗi chiều, nàng vẫn đứng nhìn bầy ngỗng trời bay lao xao xớn xác gọi nhau họp đàn. Tíếng ngỗng kêu thật buồn, nhưng hình như nàng đã quen với âm thanh đó, chúng như gắn liền với những kỷ niệm cuả căn nhà nàng đang sống. Nàng rất yêu thiên nhiên và thú vật, nàng thường bỏ ra cả giờ ngồi ở patio sau nhà mỗi sáng sớm, để nghe bầy chim sâu ríu rít đập cánh tán tỉnh nhau, giống chim chỉ nhỏ bắng ngón tay cáí, nhưng tiếng hót thật hay, rộn rã reo vui, làm thức tỉnh không gian quạnh vắng . Chỉ cần một chú chim hót, là cả khu vườn như bừng thức giấc, vui hẳn lên. Có những ngày nàng ngồi yên chăm chú nhìn cặp chim Dove, bay đi bay về với cái tổ do chúng kết thành bằng những cọng cỏ khô, chúng thay phiên nhau ấp trứng, con đực bay đi kiếm mồi, con cái nằm ấp, chừng vài giờ chúng lại đổi phiên nhau.và rồi đến một ngaỳ, nàng thấy trong chiếc tổ chim đó có ba cái đầu xinh xinh há mỏ ríu rít đòi ăn…rồi một ngày nàng thấy chúng rời tổ, tập bay, con nào con nấy béo ụ, to hơn cả cha mẹ chúng.. Nàng thường nhìn những con chim đủ loại, kiên nhẫn tha từng cọng cỏ khô chui vào những cái tổ xinh xắn do nàng đã mua, đuợc treo trên những cành cây lớn trong vườn. Lũ chim đang làm nệm ấm trong ngôi nhà tý hon ấy ù, tình yêu đang tràn trong những hình hài bé nhỏ đó, chúng đang líu lo gọi nhau chắc là những tiếng thân yêu nhất? bất giác nàng nghĩ đến mình và giấc mơ của anh ao ước cho một tương lai cuối đời.
14.
Ngày …tháng….
Anh ,
Hì…hì….G hết giận anh rồi, sao anh có linh tính hay thế, G chưa hỏi tội anh, anh đã biết mà tặng G bản nhạc naỳ, lời nhạc hay quá hả anh? G mê nhất 4 bản trong cáí CD cuả Nhạc sĩ Nguyễn Tuấn mà anh tặng Gío đấy, lời thơ cuẳ VNL cũng tuyệt quá. G phục anh thật, anh đã bỏ bao công trình để lựa cho G những tình khúc thật hay, nhưng… nhưng.chưa chắc anh đã “nice” thế, hì…hì….có thể tại anh cứ ôm đồm bao nhiêu việc ít gìơ cho G, nên đền G bằng cách nhanh nhất khỏỉ phải nặn óc viết văn hay làm thơ, mà cứ mượn đỡ ngay bài thơ, bản nhạc nào giống chuyện chúng mình rồi rối rít lên là: bản nhạc nói dùm anh. Bộ anh tính lấp liếm đi cái tội bận rộn cuả anh hả?.
Trong CD này G đã nghe đi nghe lại mấy bản anh đánh dấu là nhạc và thơ nói dùm anh đây:
.Có bao giờ em nhớ hàng me xanh bên đường, va øem có trông mong một vì sao hẹn ước. đến bao giờ em biết, anh đã yêu em rồi .xanh xanh mầu mắt biếc, tình hồng dâng đôi môi. Có bao giờ em thấy mưa hồng gọi mây xanh, có bao giờ em hay tiếng thổn thức con tim, có bao giờ em nghe chim chiều vang tiếng hát (*)
Và anh dặn G hãy nghe bản nhạc dưới đây nhiều lần, G đã thuộc đựợc bản nhạc này rồi đó anh:
Nếu một mai tôi không còn em nữa , Tôi còn gì để giữ lại cho tôi , tôi còn gì để lấp khỏang đời trôi Em là Gío tôi mơ màng ấp ủ ? Nếu một mai khi không còn em nữa. tôi còn ai để trách móc vu vơ, môi mắt naò để hờn dỗi ngây thơ và khi đó đêm đêm ta nhỏ lệ. Em…em là sông ru hồn tôi sóng nhỏ, Em…em là chim hót lên điệu ái ân. Em…em là trăng để hồn tôi sóng vỗ. Em…em là thơ để tôi viết nhạc tình .lời thân thương hoà theo tiếng dương cầm mầu trinh nguyên giữa rừng hương say đắm, tuổi thơ say mối tình đầu bỡ ngỡ. Ta cùng em gõ cửa thiên đường ( &)
A há, anh bắt đầu khôn rồi đó, anh đã biết là nguy hiểm rồi vì nếu anh cứ chúi đầu vào việc kiếm tiền làm giầu.thì,,,rồi có ngày anh sẽ phảI ôm đàn hát câu nhạc sau đây cho coi:
Nếu một mai khi không còn em nưã, khúc nhạc tình naò réo gọi tên nhau tiếng chim non ngưng hót ở trên cao. Ðời lịm tắt khi tro tàn bếp lạnh. Tôi còn chi ngoài cõi đắng mênh mang ngôn ngữ naò làm dịu hết thương đau giọt máu buồn , khô cóng đọng trong tim ( &)
Thôi G bye đây, Gío
15.
Chiều nay nàng ngồi thật lâu bên hai trang thư viết tay anh gửi tới nàng, nàng cảm thấy như anh gần gụi đâu đây, biết bao nhiêu bức điện thư đã không còn ý nghĩa bằng hai trang giấy này. Biết bao lần nói chuyện qua phôn mỗi ngày. Nàng biết anh đã cố gắng hết sức để có đuợc thời giờ viết tay cho nàng những giòng chữ thân yêu, nhìn nét chữ cuả anh, nàng mỉm cười vì nghĩ chắc chúng giống anh lắm. Nàng bỗng nhớ tiếng nói tiếng cười cuả anh, tiếng nói sang và ấm, anh có giọng nói thật đáng yêu. Hai tuần rồi, nàng đã không nghe tiếng nói đó, nàng đã tự trốn chạy .anh. Hình như nàng đang chạy trốn tất cả những yêu thuơng .
16.
Ngày….tháng….
Anh,
Bây giờ mỗi ngày G cố gắng đi bộ 1 giờ hay hơn đó anh. Khi đi bách bộ, G mang những cái tape nhạc anh gửi cho G để nghe, nên G đã không còn thấy con đường dài nữa anh a.. Anh biết không? Nhỏ bạn rủ G đến hội YMCA chơi. G cũng muốn học bơi, G đã tự hứa với mình là phảỉ học môn thể thao này cho… người dài ra được tý chút, hì…hì….tại G có 1m55 thôi, trong khi anh cao tới 1m7, như vậy khi nào đi bên anh G phải đi kiếm đôi giầy nào gót cao, nếu không, sẽ giống đôi đũa lệnh thì quê lắm. Thế nhưng khi naò G muốn thưởng anh một nụ hồng, thì G lại muốn đi chân đất, để G còn vít cổ anh xuống, hay anh phảỉ cúi xuống. Gío nhìn mấy người tập thể thao trong hội, Gió lại nhớ tới câu chuyện anh kể là hồi nàỳ khi có thì giờ rảnh một chút anh đã tập Taichi lại cho người khoẻ hơn., anh cũng giỏi cả môn naỳ, G nhớ các bạn anh đã cho biết vậy. Mấy người Mỹ trong hội đã hỏi có phải anh đang muá không hả ? Ừ, G cũng thấy môn thể thao naỳ có nhiều cái khác biệt. G đã nhìn thấy chị Phượng dậy mẹ mấy động tác căn bản để tập môn thể thao này.. Chị ấy mập lắm, coi thật nặng nề, vậy mà khi chị ấy múa Taichi thì trời ơi, thật là nhẹ nhàng, dẻo ơi là dẻo, tay chân rất mềm mại, cứ như một vũ công thiện nghệ, làm mọi người ngạc nhiên. Mẹ và bác cứ cười nói: Nhỏ Phượng này múa dẻo hơn kẹo kéo nữa. Chị ấy nói, nếu tập đúng, sẽ thấy người toát mồ hôi, tuy coi nhẹ nhàng ,nhưng tập xong cũng mệt lắm đó& Anh bơi giỏi, anh sẽ phải dậy G khi anh qua thăm G, nhưng giao hẹn anh trước là anh không đuợc dìm G uống nước đâu đó nhá. Gió
17.
Nàng vuốt thẳng trang thư cuả anh gửi, nước mắt rưng rưng…
Ngày…tháng…
Em yêu,
Có phải em muốn giết anh không? Hơn hai tuần nay không được nghe em nói. Em có biết là anh muốn phát điên lên không, khiến không còn tâm đâu để làm việc nữa. Ngay cả lái xe, anh cũng suýt gây ra tai nạn bao lần, khiến những người ngồi cạnh đã rú lên khi anh vượt đèn đỏ .v..v…cũng may mà anh chưa chết. Ðiều gì đã khiến em giận anh đến thế, và điều gì đã khiến em muốn xa anh? Anh đã hứa, sau khi hoàn tất mấy giao kèo này, anh không ôm đồm nữa, nếu em biết là anh đã từ chối mấy nơi rồi. Bây giờ anh phải thú tội này với em, ngoài hai căn nhà anh đang hoàn tất, anh còn hai căn nữa, đang xây dở dang, anh giúp hai người bạn thân, vì đã lỡ hứa, hai căn này là anh làm chùa, đo đấy anh mới qúa bận rộn. Nhưng đã lỡ hứa, anh không muốn là Em có biết rằng ngay cả cuối tuần, anh cũng đi làm để có cơ hội được trò chuyện với em, đám nhân viên da trắng làm cho anh từ gần mười năm nay chúng đã nhìn ra sự khác lạ kỳ quặc nơi anh, chúng đã kháo nhau rằng anh đang fall in love with someone, ngay cả những người thân nhất cũng nhận ra sự thay đổi nơi anh, bạn bè cũng nhận ra điều đó, ai đã khiến anh ngaỳ thì ngẩn ngơ, đêm lại mộng mị.? Một lần anh ngủõ tại nhà thằng bạn thân, khi anh lên xây nhà dùm gia đình nó, tên bạn học cũ từ hồi CVA, gần đây mắt hắn bị trở ngại, không nhìn rõ, nhưng trời đã bù cho hắn là thính giác rất bén nhạy. Có lần anh nói chuyện với em thật nhỏ, tuởng hắn ngồi thiền, không nghe thấy, nhưng hắn đã. Và lần khác, có một sáng hắn gọi anh lại nói: Ban ngaỳ mày nói gì , mọi người đều nghe, ban đêm mày nói, chỉ mình tao nghe Em biết hôm nào không? Cái đêm anh mơ thấy em. Anh hỏi nó: “Tao nói gì? Kể lại tao nghe đuợc không? “ Nó nói nó quên hết rồi, nhưng anh biết nó không muốn thuật lại, sợ anh ngượng hay khó nói. Anh cũng nhớ bao lần em bảo anh là đừng nghĩ đến em nữa thì sẽ không nằm mơ nhưng làm sao anh control được tiềm thức của mình. ? Trời ơi, những ngày thiếu tiếng nói em , làm sao anh có thể làm việc tiếp đuợc đây, và bao giờ anh mới đuợc gặp em?
Nàng gập lá thư lại, thở dài, và không muốn nghĩ thêm gì nữa.
19.
Ngày…tháng…
Anh,
Anh biết không? Sáng nay khi G đi bộ về đến nhà thì đã hơn tám giờ sáng, nắng sớm đã bắt đầu trải ánh sáng vàng óng trên tàn cây khóøm lá. Gío ngồi nghỉ mệt ở pation sau nhà. G thích ngồi đây mỗi sáng nghe chim hót , đọc sách hay đọc thư anh. Anh biết không, , trên cành liễu cao, một cái bird feeder, hình bầu dục, bằng thuỷ tinh, mầu đỏ thắm, vì đựng loại nuớc cho loài chim Humming bird uống. Aùnh nắng chiếu long lanh, khiến Gío nhớ đến viên ruby khổng lồ gắn trên trán cuả ông thần đèn khủng lồ trong cuốn phim thần thoại : Aladin và cây đèn thần mà Gío đuợc xem từ ngày xa xưa. Hồi đó G đã sợ đến khiếp đảm khi nhìn thấy ông thần khủng lồ xuất hiện trên màn ảnh, ông thần nàỳ to qua , tên cướp chỉ nhỏ hơn ngón chân cái cuả ông! Gió đã run sợ khi nghe tiếng ông khủng lồ ồm ồm đe dọa tên cướp. G thu nhỏ người và nắm chặt tay anh Phong để đừng khóc., tuy thế G vẫn hé mắt ngắm viên hồng ngọc đỏ thắm thật quyến rũ. Hình ảnh viên ruby trong suốt, đỏ sẫm, đẹp tuyệt vời đó đã ăn sâu vaò tâm khảm theo Gió đến tận bây giờ. Hôm nay G đã nhìn thấy caí bird feeder giống như viên ruby thắm đỏ trên cành cây ! Bất giác G nghĩ đến anh, anh như viên ngọc quý hiếm, anh giống như viên ruby mà G đã tìm kiếm từ hồi bé bỏng. Anh qúy, Happy birthday anh nhe’, cho người cuả sinh nhật tháng Sáu, có là sự trùng hợp với câu chuyện viên Ruby không đây ?
Chúc anh một sinh nhật vui nhé. Vì là sinh nhật anh, nên Gío đã tha tội cho anh rồi đó. Anh mừng đi. Gío.
20.
Nàng ngồi im lặng để tâm hồn chìm trong những giòng thuơng yêu cuả anh: Em yêu, hôm nay người ta đã khiêng cáí grand piano đến nhà, cái duơng cầm mà anh đã đặt mua từ mấy tháng qua. Bé bìết không? để khánh thành, bản nhạc đầu tiên anh đã chọn để tặng em yêu đây, anh nghĩ, bản nhạc nàỳ đã nói đúng tâm tư anh nhất trong thời gian này. Chỉ còn hai tháng nữa, là anh sẽ thư thả hơn, vì công việc cũng đã xong được 4/5, anh sẽ có nhiều giờ hơn cho em, anh sẽ hoàn tất hai bức tranh chân dung em mà anh đang vẽ dở, anh sẽ dượt lại nhạc cổ điển tây phương mà anh hằng yêu thích, rồi anh sẽ thâu tặng em những tình khúc do anh độc tấu, để em nghe mỗi tối. Anh sẽ…v…v.anh muốn làm nhiều thứ cho em lắm. Cam đoan em sẽ vui vì những gì anh đang làm cho em đây.
Nàng nhắm mắt mơ màng và bỗng nàng nhìn thấy hình ảnh một con bé tươi vui với đôi mắt long lanh, và những bước chân chim. Môi mắt như cười với tiếng piano và giọng hát anh ở cái earphone úp chặt hai bên tai:
Hình như mỗi ngày , hình như mỗi ngày… anh yêu em nhiêu hơn một chút, giống như chiếc cầu thang, mà anh cứ cực khổ leo mãi, leo hoài. Hình như mỗi ngày, hình như mỗi ngày… anh nhớ em nhiều hơn một chút, giống như một giòng sông…anh bơi maĩ, bơi hoài… Hình như mỗi ngày… hình như mỗi ngaỳ…. anh nói nhiều hơn một chút,vì anh nói hoài hai tiếng yêu em và anh cứ lẽo đẽo theo em,và anh cứ leõ đẽo theo em. theo em suốt cuộc đời này, theo em suốt cuộc đời mình…
Nàng nghe như có tiếng mình hát nhỏ theo anh. Hương Kiều Loan  Cô là một thiếu nữ xinh đẹp, dáng dấp đài các, cao sang, nhưng trớ trêu thay định mệnh lại chọn cho cô vào một gia đình công chức tầm thường. Không của hồi môn, thì làm sao có duyên cơ gặp gỡ đàn ông giàu có, danh giá, để được tìm hiểu, yêu đương rồi đi tới hôn nhân? Thế nên cô chấp nhận về làm vợ của một anh lục sự “thường thường bậc trung” tại bộ thông tin. Tài chánh không cho phép cô ăn diện, và cô lấy làm phiền lòng vô cùng, như thể mình từ một địa vị cao rơi xuống. Dung nhan diễm lệ, dáng dấp kiêu sa, chẳng là những yếu tố khắc phục thứ bậc, tầng lớp mà số phận đã an bài? Tài năng thiên phú, bản năng nhận thức, một đầu óc thích nghi có phải là đẳng cấp duy nhất? Cũng đúng đấy thôi, nhiều người đàn bà dân giả được sánh ngang hàng với những mệnh phụ danh giá nhờ nhan sắc, trí thông minh và phương cách giao tiếp của họ.
Thế nên cô nàng Mathilde nhà ta luôn buồn đời. Đàn bà đẹp như cô sinh ra là để tận hưởng những cao sang, thanh lịch của cuộc đời. Cảnh nhà nghèo nàn làm cô tủi thân, tường trống không, bàn ghế xục xịch, màn cửa thô thiển. Những gì mà một người đàn bà cùng giai cấp như cô, chẳng mảy may bận lòng, là những mối ưu phiền cho cô . Hình ảnh người đàn bà nội trợ với công việc thường ngày làm cô chán nản, thất vọng, và Mathilde thay bằng những giấc mơ cao vời. Cô hình dung đến những căn phòng yên áng, tường phủ bằng thảm Ba Tư ấm cúng, cao sang, phản chiếu ánh sáng từ những cột trụ bằng đồng sáng loáng, lại có hai anh hầu quần ống chẽn ngủ gà ngủ gật trong ghế bành lớn vì hơi nóng của lò sưởi. Cô trông thấy những hành lang rộng thênh thang, trang hoàng bằng những giải lụa cổ, các kệ tủ xinh xắn tràn ngập vật dụng xinh đẹp, vô giá. Tiếp chuyện cùng các cô, các bà phải là những căn phòng khách thơm mùi nước hoa, và cũng là nơi mà những đàn ông danh giá, lịch thiệp lui tới, những đấng mày râu mà các cô, các bà nào cũng muốn gặp gỡ, và ao ước được họ lưu ý tới.
Tối tối, ngồi đối diện chồng tại bàn ăn, trải cùng tấm khăn từ ba ngày qua, cô dửng dưng nhìn anh, tay mở liểng, miệng thốt lên sung sướng: “À, món hầm tối nay coi ngon quá, anh nghĩ chẳng có điều gì hấp dẫn hơn.” Lúc ấy cô liên tưởng đến những bữa ăn thịnh soạn, với muỗng, nĩa bạc, tường phủ thảm thêu hình các nhân vật cổ xưa, hoặc những con chim kỳ thú trong ngôi rừng thần thoại, bàn ăn bày biện đủ các thức ngon vật lạ, dọn trên những bát dĩa tuyệt đẹp, thực khách chuyền tai nhau những lời hoa mỹ, và được đáp lại với nụ cười mỉm bí mật, tay gắp miếng cá tươi tắn, hồng hào, hay bỏ vào mồm cánh bồ câu dòn tan.
Áo dạ hội, nữ trang đắt tiền là những món mà cô yêu thích nhất, thế mà cô chẳng có lấy một thứ nào! Phụ nữ đẹp như mình sinh ra là để diện những thứ đó vào người cơ mà, cô nghĩ thế. Cô ước ao được người người chiều chuộng, ganh tị, được đàn ông tán tỉnh, khen thưởng. Cô có một chị bạn gái giàu có, quen thời cùng học nội trú, mà giờ cô chẳng còn muốn gặp nữa, vì mỗi bận ra về cô lại cảm thấy buồn. Có bận cô đã khóc mấy ngày liền vì chán nản, thất vọng.
Bỗng một chiều nọ, anh chồng về nhà, mặt mày rạng rỡ, tay cầm một phong bì lớn. - Đây, em nè, anh có cái này cho em
Trong phong bì là một thiệp mời với những giòng chữ: "Bộ Trưởng bộ Thông Tin và bà Georges Ramponneau hân hạnh đón tiếp ông và bà Loisel tại dinh bộ trưởng tối thứ hai ngày 18 tháng Giêng"
Lẽ ra phải vui mừng, như chồng mong mỏi, cô lại vứt tấm thiếp lên bàn và bảo: - Anh muốn tôi làm gì với tấm thiếp này chứ? - Cưng, anh lại tưởng em sẽ vui chứ! Em chẳng bao giờ đi ra ngoài, và đây là một cơ hội em ạ. Anh phải mất nhiều công lao mới được thiệp mời. Ai cũng muốn đi dự buổi tiệc này; họ chọn lựa kỹ lắm, không phải ai cũng có được đâu. Tất cả những ông bà lớn đều có mặt hôm ấy.
Cô nhìn anh với cái nhìn khó chịu, vội cướp lời: - Vậy thì anh tính em sẽ bận cái gì chứ?
Anh không nghĩ đến điều này. Anh lắp bắp: - Thì cái áo em hay bận đi coi kịch với anh đó. Áo ấy trông được lắm!
Anh ngưng ngang, chưng hửng, bối rối vì thấy cô vợ đang khóc. Hai giòng nước mắt lặng lẽ rơi từ khoé mắt xuống bờ môi xinh đẹp. Anh lúng túng: - Gì thế, em sao thế ?
Cố gắng dằn niềm đau khổ, cô trả lời bằng một giọng bình tĩnh sau khi đưa tay lau hai gò má ướt: - Chẳng có gì cả. Em chẳng có áo đẹp, vì thế em không thể đi dự buổi dạ tiệc được. Anh hãy đưa tấm thiệp mời này cho bạn đồng nghiệp nào ở bộ, mà cô vợ có đủ quần áo hơn em.
Lúng túng, anh vớt vát: - Nào, nào, Mathilde. Xem nào, một cái áo đẹp, để đi dạ hội, mà em có thể xài vào những dịp khác, một cái áo thường thôi, tốn khoảng bao nhiêu tiền?
Nghĩ ngợi một đôi giây, trong đầu làm vội những con tính, một con số khã dĩ không bị từ chối ngay hay gặp phải phản ứng thảng thốt từ anh chàng lục sự cần kiệm này. Cuối cùng, cô trả lời, giọng ngập ngừng: - Em cũng không biết rõ, nhưng em nghĩ một cái áo đẹp chắc khoảng bốn trăm francs.
Mặt anh hơi tái đi, vì anh đã để dành đúng khoảng tiền như thế để mua một khẩu súng săn, dự định cùng đám bạn đi bắn chim chiền chiện tại đồng bằng Nanterre trong vụ hè tới. Thế nhưng anh nói: - Cũng được. Anh sẽ cho em bốn trăm francs. Mà em ráng mua một cái áo đẹp nhen!
Ngày dạ tiệc đến gần kề mà mặt bà Loisel trông vẫn có nét buồn, lo lắng. Áo nàng thì đã may xong. Nhận thấy điều này, một tối anh hỏi: - Có điều gì không? Ba ngày nay sao anh thấy em có vẽ lạ, không được vui? Nàng trả lời chồng: - Phiền một nỗi là em chẳng có một bộ nữ trang nào cả, chẳng có lấy một viên đá để mang lên người. Coi nghèo nàn làm sao! Chẳng thà đừng đi cho rồi! - Em có thể cài hoa lên tóc, anh chồng đề nghị. Vào mùa này mà cài hoa thì sang lắm em ạ. Thêm mười francs thôi em có thể mua hai, ba hoa hồng thật đẹp! Lời anh nói không thuyết phục được cô: - Không, không được. Chẳng có điều gì nhục nhã bằng mình trông nghèo nàn bên cạnh những người đàn bà giàu sang. - Ồ, sao em dốt thế! Anh chồng bỗng kêu lên: “Em có bà bạn giàu lắm mà, chị Forestier, sao em không mượn nữ trang của chị ấy. Hình như em thân với chị ấy lắm để có thể tới mượn nữ trang được!“ Cô reo lên, mừng rỡ: - Đúng thế, sao em lại chẳng nghĩ ra.
Ngày hôm sau, cô tới gặp bạn, tâm sự với bạn vấn đề của mình. Bà Forestier tới tủ áo có kiếng, lấy ra một hộp nữ trang lớn, trao cho bà Loisel và nói: - Chị cứ lựa bất cứ món gì chị thích.
Thoạt tiên cô thấy mấy vòng đeo tay, rồi sợi dây chuyền ngọc trai, tiếp đến dây thánh giá lớn cổ xưa, chạm trổ rất khéo léo với những viên ngọc quý. Cô thử lên thử tới trước gương, ngập ngừng, không thể rời chúng ra, mà cũng chẳng quyết định chọn món nào, và cái nào thì đưa trả lại cho bạn. Cô hỏi: - Chị có món nào nữa không? - Có chứ. Chị cứ chọn tiếp đi. Mình chẳng biết chị thích cái nào.
Bỗng cô nhìn thấy một hộp bọc xa-tanh đen, trông có một sợi dây chuyền nhận toàn kim cương tuyệt đẹp, tim cô thắt lại trong niềm ham muốn. Cô cầm sợi dây lên mà tay run run. Cô choàng nó vào cổ cao. Ngắm mình trong gương cô chìm trong nỗi sung sướng với hình ảnh tuyệt mỹ của chính mình. Rồi cô hỏi, giọng hoài nghi: - Chị có thể cho em mượn chuỗi kim cương này được không? - Được chứ, chị cầm lấy đi! Cô ôm chầm lấy bạn, hôn lên má bạn như lời cảm ơn chân tình nhất, rồi vội vàng ra về với kho tàng nhỏ trong tay.
Ngày dạ tiệc, bà Loisel thành công rực rỡ. Nàng đẹp hơn hết trong đám phụ nữ, nàng thật kiêu sa, vương giả, cười tươi tắn, dòn tan trong niềm sung sướng. Tất cả những người đàn ông có mặt chiêm ngưỡng nàng, hỏi tên nàng, tìm đến tự giới thiệu. Tất cả những nhân vật lớn trong bộ muốn cùng nàng khiêu vũ. Ngay cả ông bộ trưởng cũng chú ý đến nàng. Nàng khiêu vũ trong mê cuồng, ngất ngây vì vui sướng, đắm chìm trong niềm hãnh diện bởi nhan sắc của mình, nàng như lên chín tầng mây với những lời ngưỡng mộ. Những khát khao từ bấy lâu nay đã được vuốt ve! Thật là một chiến thắng toàn hảo, tuyệt vời, thoả mãn trái tim người đàn bà.
Cô ra về vào khoảng bốn giờ sáng. Chồng cô đã ngủ được một giấc vào lúc nửa đêm trong một căn phòng bỏ trống với ba người đàn ông khác mà các bà vợ cũng đang rất vui với buổi dạ tiệc. Anh khoác lên vai nàng tấm khăn choàng ngoài, tấm khăn tầm thường của một đời sống bình dị, sự nghèo nàn của nó thật trái biệt với cái áo dạ hội sang trọng, đắt tiền. Cô cảm nhận điều đó và muốn thoát khỏi nó, tránh những cặp mắt so sánh của những người đàn bà khác đang được khoác trên vai những tấm khăn choàng bằng da thú sang trọng. Anh chồng giữ cô lại, bảo: - Đợi tí đã nào. Coi chừng bị cảm vì ở ngoài lạnh lắm. Đợi anh gọi xe về.
Nhưng cô không nghe anh, vội vàng bước xuống cầu thang. Khi họ xuống tới đường cái, thì không còn chiếc xe nào cả. Họ lục loại, tìm kiếm, la lớn vào những chiếc chạy từ tuốt xa trong đêm vắng. Họ đi qua dòng sông Seine, người run lập cập vì lạnh. Cuối cùng trên bến họ tìm được một chiếc xe taxi cổ, cũ kỹ, chỉ thấy ở Paris lúc trời đã tối, như thể chúng cũng biết xấu hổ, không dám chạy vào ban ngày.
Chiếc xe chở họ tới tận cửa, đường Martyrs, và họ mệt nhọc leo vào nhà. Tàn một cuộc vui, cho nàng. Còn anh thì nghĩ, ngày mai lại phải vào bộ lúc Mười giờ. Nàng dở áo choàng ra, nhìn vào gương để ngắm mình lần nữa trong huy hoàng. Bỗng nhiên cô thảng thốt buông ra một tiếng kêu. Cô không có chuỗi kim cương trên cổ! Anh chồng, đã thay gần hết quần áo hỏi: - Gì thế ?
Cô quay lại chồng, la thất thanh: - Em ... em không có sợi dây chuyền của chị Forestier nữa! Anh đứng bật dậy, sửng sốt: - Làm thế nào, làm sao xảy ra được? Cả hai lục loại trên các lớp áo của cô, áo khoác ngoài, áo dạ hội, các túi áo, họ tìm kiếm mọi nơi, nhưng vẫn không kiếm ra. - Em có chắc là em còn đeo nó khi rời khỏi tiệc không? Anh chồng hỏi. - Có, chắc mà, em có sờ vào nó lúc còn ở dinh ông bộ trưởng mà. - Nếu em làm rơi nó trên đường, thì chúng mình đã nghe tiếng nó rơi trên hè rồi. Có lẽ nó rơi trong xe. - Có lẽ thế, anh có lấy số xe không? - Không, thế em có nhìn số xe không? - Không.
Hai người nhìn nhau, thảng thốt. Rồi cuối cùng Loisel bận quần áo vào và nói: - Thôi tôi phải đi lại khoảng đường mình đi bộ, xem có thể kiếm ra nó không. Anh đi ra ngoài. Cô ngồi chờ trên ghế trong chiếc áo dạ hội, không còn sức mà leo lên giường, đầu óc chán nản, hết cả năng sức, không một ý nghĩ.
Anh chồng trở về lúc bảy giờ sáng, anh không kiếm được sợi dây chuyền. Anh tới sở cảnh sát, tới nhà báo đăng rao vặt, hứa một món tiền thưởng, anh đến công ty xe taxi, thật ra anh tới đó trong niềm hy vọng cuối cùng. Cô chờ anh cả ngày, trong tình trạng lo lắng kinh hoàng, trước một thảm trạng khủng khiếp. Trời tối mịt, Loisel mới về đến nhà mặt tái xanh, hóc hác. Anh chẳng kiếm ra gì cả. “Em phải viết cho bạn em”, anh nói: “Bảo em làm sức cái móc của sợi dây, và đang đợi tiệm sửa, để chúng ta có thì giờ kiếm cách trả lại sợi dây.” Cô lấy giấy bút ra ghi lại những dòng anh đọc cho cô.
Cuối tuần thì họ hết hy vọng. Loisel, nay trông già thêm năm tuổi bảo: -Giờ thì chúng ta phải tìm cách thay thế sợi dây khác rồi. Ngày hôm sau họ đem các hộp đựng sợi dây tới tiệm kim hoàng có tên khắc trên hộp. Ông chủ tiệm lục loại giấy tờ và nói: - Thưa bà, tôi không bán sợi dây, tôi chỉ bán cái hộp thôi.
Họ đi từ tiệm kim hoàng này sang tiệm khác để kiếm một sợi dây chuyền tương tợ, cố nhớ hình dáng nó, mà lòng cả hai kinh hoàng, thảm não. Cuối cùng, trong tiệm kim hoàng khu Hoàng Cung, có một sợi dây, một chuỗi kim cương, trông giống in như sợi dây họ đã đánh mất. Sợi dây chuyền để giá là bốn mươi ngàn francs, và người ta bớt xuống với giá ba mươi sáu ngàn francs. Hai vợ chồng năn nỉ chủ tiệm xin đợi cho ba ngày, đừng bán cho bất cứ ai. Họ cũng giao điều kiện với chủ tiệm phải mua lại sợi dây với giá ba mươi bốn ngàn francs nếu trong trường hợp họ kiếm ra được sợi dây chuyền đánh mất trước thời định là cuối tháng hai.
Loisel có mười tám ngàn francs, gia tài nhỏ ông bố để lại. Anh phải đi mượn số tiền còn lại. Anh mượn một ngàn đây, năm trăm đó, năm chục người nọ, ba francs người kia. Anh ký giấy nợ, sẵn sàng nhận làm những việc tầm thường nhất, mặc cả với các tay vay lãi, với tất cả mọi loại người trong giới cho vay chợ đen. Anh bằng lòng thoả hiệp suốt đời mình, ký giấy nợ mà chẳng biết mình có trả được không, trong nỗi lo lắng viễn tượng tương lai đen tối, khổ cực, những thiếu thốn về vật chất và những dày vò về tình thần mà anh sẽ phải chịu đựng. Trong trạng thái như thế anh đến tiệm kim hoàng, đặt trên quầy ba mươi sáu ngàn francs và lấy về sợi dây chuyền mới.
Ngày bà Loisel đem sợi dây chuyền trả cho bà Forestier, bị bạn ban cho một câu lạnh nhạt: - Đáng nhẽ chị phải trả tôi sớm hơn, tôi có thể cần nó để đi dạ hội đấy!
Bà bạn không mở hộp ra, như cô đã lo lắng mãi. Nếu chị ta nhận thấy đó là một sợi dây chuyền khác, thì chị ta nghĩ thế nào về mình đây, chị sẽ nói sao? Chị ấy có nghĩ mình là kẻ cắp không chứ.
Từ đó bà Loisel biết thế nào cuộc đời của khổ cực, lao động. Không ngờ nàng đã can đảm gánh vác bổn phận của mình. Món nợ kinh khủng đó phải được trả và nàng phải dự phần trả món nợ đó. Họ cho con sen nghỉ làm. Họ đổi chỗ ở, đi thuê một nơi tồi tàn hơn trước. Giờ đây cô làm những công việc nội trợ nặng nhọc nhất, những việc khó khăn nhất của nhà bếp. Cô rửa chén, cào nhọ nồi, soong chảo mỡ mật bằng đôi bàn tay hồng hào của mình. Cô giặt quần áo, ra giường, khăn bàn bẩn, rồi đem phơi chúng trên giây. Trên con dốc sáng sáng, chiều chiều cô gánh nước lên, nếu cần dừng lại bậc tâng cấp thở. Cô ăn bận như dân lao động, tay cầm giỏ, tới từng quầy rau, hàng tạp hoá, hàng thịt, mặc cả từng xu một, bảo vệ đồng bạc khốn khổ của mình.
Mỗi tháng món nợ này phải được trả, lại gia hạn món nợ khác, mua thêm thời gian. Anh chồng làm thêm ban đêm cho các hàng quán, vào tối khuya có khi anh còn chép các bản thảo, mỗi năm xu một bản. Và cuộc sống như thế kéo dài mười năm. Tới cuối năm thứ mười, họ đã trả hết, tất cả, với thuế cắt cổ của các tên chủ nợ, và những tiền lời chồng chất lên nhau.
Bà Loisel giờ đây trông già đi. Bà đã biến thành một người đàn bà mạnh mẽ, thô thiển và cứng rắn, một người đàn bà của giới lao động. Tóc rối, váy nhầu, tay đỏ, bà ăn nói ồn ào, thảy từng mảnh nước lớn, cong lưng chùi nhà. Thế nhưng, thỉnh thoảng khi ông chồng đang ở sở làm, bà ngồi tựa nơi cửa sổ và nghĩ đến buổi dạ tiệc huy hoàng đã lâu rồi, buổi khiêu vũ mà bà thật đẹp và được mọi người chiêm ngưỡng. Nếu đêm đó bà không đánh mất sợi dây chuyền, thì việc gì xảy ra? Nào ai biết được? Nào ai biết được? Đời thay đổi lạ lùng quá đổi. Không ngờ chỉ cần một việc nhỏ thôi đủ làm cho ta lạc lối hay có thể cứu ta.
Một ngày chủ nhật, bà đi dạo trong vườn Champs Elysée, cho bõ một tuần lao động khổ cực, bà bỗng nhận ra một người đàn bà tay dẫn một đứa bé. Chính là bà Forestier ngày nào, bây giờ vẫn đẹp, vẫn đài các. Bà Loisel cảm thấy xúc động. Mình có nên tới nói chuyện với chị ta không. Chắc hẳn rồi chứ . Giờ đây bà đã trả hết món nợ. Bà sẽ cho bạn biết. Tại sao không?
Bà đến gần bạn. -Chào chị Jeanne . Người bạn, chẳng nhận ra bà chút nào, ngạc nhiên thấy trước mình một người đàn bà xa lạ, gọi mình như quen thân lắm. Bà lúng túng: - Thưa bà, chắc bà lầm, tôi không quen bà. - Không, chị không lầm. Tôi là Mathilde Loisel đây.
Người bạn buông ra một tiếng kêu thảng thốt: - Trời ... chị Mathilde, làm sao chị thay đổi dữ vây! - Đúng vậy chị ạ, sau lần cuối em gặp chị, đời em thay đổi qua cảnh nghèo khó, mà chị biết không, cũng tại chị đó! - Ủa, sao có mình trong đó? - Chị có nhớ sợi dây chuyền kim cường chị cho em mượn đi dự dạ hội ông bộ trưởng không? - Có chứ! - Em đánh mất nó. - Chị nói sao, chị có đem trả mình mà! - Em đem trả chị sợi dây chuyền giống in sợi chị cho mượn. Thế nên phải mất mười năm vợ chồng em mới trả hết các món nợ. Với chúng em điều này không phải dễ, vì thực sự gia tài chúng em chả có là bao. Nhưng cuối cùng thì chúng em cũng thanh toán được hết món nợ ... Em rất mừng đã hết nợ nần!
Bà Forestier khựng lại: -Chị nói sao, chị đã mua một sợi dây chuyền kim cương để thế sợi dây của mình à? - Đúng thế, chị không hề nhận ra à, hai sợi dây giống nhau lắm. Bà mỉm miệng cười, một nụ cười hãnh diện mà ngây ngô.
Bà Forestier, xúc động khôn xiết, đưa tay cầm lấy tay bạn: - Tội cho bạn tôi quá, chị Mathilde ơi, sợi dây của mình là sợi giả mà, chỉ đáng giá khoảng năm trăm francs là cùng . Guy de Maupassant  Trên đê Yên Phụ, một buổi chiều mùa hạ. Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi. Theo dòng nước đỏ lờ lờ, những thân cây, những cành khô trôi từ rừng về, nổi lềnh bềnh, như một dẫy thuyền nhỏ liên tiếp chạy thực nhanh tới một nơi không bờ không bến. Đứng trên đê, bác phó nề Thức đưa mắt trông theo những khúc gỗ ấy tỏ ra ý thèm muốn, rồi quay lại, đăm đăm nhìn vợ, hỏi thầm ý kiến. Người vợ, ngắm sông, ngắm trời, lắc đầu thở dài, nói: - Gió to quá, mà đám mây đen kia ở chân giời đùn lên mau lắm. Mưa đến nơi mất, mình ạ! Người chồng cũng thở dài, đi lững thững. Rồi bỗng đứng dừng lại, hỏi vợ: - Mình đã thổi cơm chưa? Vợ buồn rầu đáp: - Đã. Nhưng chỉ đủ cơm cho hai con ăn bữa chiều hôm nay. Hai vợ chồng lại im lặng nhìn nhau... Rồi hình như cùng bị một vật, một định kiến nó thôi miên, nó kiềm áp, hai người đều quay lại phía sông: Những thân cây vẫn phăng phăng trôi giữa dòng nước đỏ. Chồng mỉm cười, cái cười vơ vẩn, bảo vợ: - Liều! Vợ lắc đầu, không nói. Chồng hỏi: - Mình đã đến nhà bà Ký chưa? - Đã. - Thế nào? - Không ăn thuạ Bà ấy bảo có đem củi vớt đến, bà ấy mới giao tiền. Bà ấy không cho vay trước. - Thế à? Hai chữ "thế à" rắn rỏi như hai nhát bay cuối cùng gõ xuống viên gạch đặt trên bức tường đương xây. Thức quả quyết sắp thi hành một việc phi thường, quay lại bảo vợ: - Này! Mình về nhà, trông coi thằng Bò. - Đã có cái Nhớn, cái Bé chơi với nó rồi. - Nhưng mình về thì vẫn hơn. Cái Nhớn nó mới lên năm, nó trông nom sao nổi hai em nó. - Vậy thì tôi về... Nhưng mình cũng về, chứ đứng đây làm gì? - Được, cứ về trước đi, tôi về sau. Vợ Thức ngoan ngoãn, về làng Yên Phụ. ooOoo
Tới nhà, gian nhà lụp xụp, ẩm thấp, tối tăm, chị phó Thức đứng dừng lại ở ngưỡng cửa, ngắm cái cảnh nghèo khó mà đau lòng. Lúc nhúc trên phản gỗ không chiếu, ba đứa con đương cùng khóc lóc gọi bụ Thằng Bò kêu gào đòi bú. Từ trưa đến giờ, nó chưa được tí gì vào bụng. Cái Nhớn dỗ em không nín cũng mếu máo, luôn mồm bảo cái Bé: - Mày đi tìm bu về để cho em nó bú. Nhưng cái Bé không chịu đi, nằm lăn ra phản vừa chửi vừa kêu. Chị phó Thức chạy vội lại ẵm con, nói nựng: - Nao ôi! Tôi đi mãi để con tôi đói, con tôi khóc. Rồi chị ngồi xuống phản cho con bú. Song thằng Bò, ý chừng bú mãi không thấy sữa, nên mồm nó lại nhả vú mẹ nó ra mà gào khóc to hơn trước. Chị Thức thở dài, hai giọt lệ long lanh trong cặp mắt đen quầng. Chị đứng dậy, vừa đi vừa hát ru con. Rồi lại nói nựng: - Nao ôi! Tôi chả có gì ăn, hết cả sữa cho con tôi bú! Một lúc, thằng bé vì mệt quá lặng thiếp đi. Hai đứa chị, người mẹ đã đuổi ra đường chơi để được yên tĩnh cho em chúng nó ngủ. Chị Thức lẳng lặng ngồi ôn lại cuộc đời đã quạ Bộ Óc chất phác của chị nhà quê giản dị, không từng biết tưởng tượng, không từng biết xếp đặt trí nhớ cho có thứ tự. Những điều chị nhớ lại chen chúc nhau hỗn độn hiện ra như những hình người vật trên một tấm ảnh chụp. Một điều chắc chắn, chị ta nhớ một cách rành mạch, là chưa bao giờ được thư nhàn, được hưởng chút sung sướng thư nhàn như những người giàu có. Năm mười hai, mười ba, cái đĩ Lạc, tên tục chị phó Thức, xuất thân làm phu hồ. Cái đời chị, nào có chi lạ. Ngày lại ngày, tháng lại tháng, năm lại năm... Năm chị mười bảy, một lần cùng anh phó Thức cùng làm một nơi, chị làm phu hồ, anh phó ngõa. Câu nói đùa đi, câu nói đùa lại, rồi hai người yêu nhau, rồi hai người lấy nhau. Năm năm ròng, trong gian nhà lụp xụp ẩm thấp, tối tăm ở chân đê Yên Phụ, không có một sự gì êm đềm đáng ghi chép về hai cái đời trống rỗng của hai người khốn nạn, càng khốn nạn khi họ đã đẻ luôn ba năm ba đứa con. Lại thêm gặp buổi khó khăn, việc ít công hạ, khiến hai vợ chồng loay hoay, chằn vặt suốt ngày này sang ngày khác vẫn không đủ nuôi thân, nuôi con. Bỗng mùa nước năm ngoái, bác phó Thức nghĩ ra được một cách sinh nhai mới. Bác vay tiền mua một chiếc thuyền nan, rồi hai vợ chồng ngày ngày chở ra giữa dòng sông vớt củi. Hai tháng sau, bác trả xong nợ, lại kiếm được tiền ăn tiêu thừa thãi. Vì thế năm nay túng đói, vợ chồng bác chỉ mong chóng tới ngày có nước to. Thì hôm qua, cái ăn, trời đã bắt đầu đưa đến cho gia đình nhà bác. Nghĩ đến đó, Lạc mỉm cười, se sẽ đặt con nằm yên trên cái tã, rồi rón bước ra ngoài, lên đê, hình như quả quyết làm một việc gì.
ooOoo
Ra tới đê, Lạc không thấy chồng đâu. Gió vẫn to, vù vù, gầm hét dữ dội và nước vẫn mạnh, réo ầm ầm chảy nhanh như thác. Lạc ngước mắt nhìn trời: da trời một màu đen sẫm. Chị đứng ngẫm nghĩ, tà áo bay kêu bành bạch như tiếng sóng vỗ mạnh vào bờ. Bỗng trong lòng nẩy một ý tưởng, khiến chị hoảng hốt chạy vụt xuống phía đê bên sông. Tới chỗ buộc thuyền, một chiếc thuyền nan. Lạc thấy chồng đương ra sức níu lại các nút lạt. Chị yên lặng đăm đăm đứng ngắm đợi khi chồng làm xong công việc, mới bước vào thuyền, hỏi: - Mình định đi đâu? Thức trừng trừng nhìn vợ, cất tiếng gắt: - Sao không ở nhà với con? Lạc sợ hãi ấp úng: - Con... nó ngủ. - Nhưng mày ra đây làm gì? - Nhưng mình định đem thuyền đi đâu? - Mày hỏi làm gì?... Đi về! Lạc bưng mặt khóc. Thức cảm động: - Sao mình khóc? - Vì anh định đi vớt củi một mình, không cho tôi đi. Thức ngẫm nghĩ, nhìn trời, nhìn nước, rồi bảo vợ: - Mình không đi được... Nguy hiểm lắm! Lạc cười: - Nguy hiểm thời nguy hiểm cả... Nhưng không sợ, em biết bơi. - Được! Tiếng "được" lạnh lùng, Lạc nghe rùng mình. Gió thổi vẫn mạnh, nước chảy vẫn dữ, trời một lúc một đen. Thức hỏi: - Mình sợ? - Không.
ooOoo
Hai vợ chồng bắt đầu đưa thuyền ra giữa dòng, chồng lái, vợ bơi. Cố chống lại với sức nước, chồng cho mũi thuyền quay về phía thượng du, nhưng thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phía dưới, khi nhô khi chìm, khi ẩn khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son. Nhưng nửa giờ sau, thuyền cũng tới được giữa dòng. Chồng giữ ghì lái, vợ vớt củi. Chẳng bao lâu thuyền đã gần đầy, và vợ chồng sắp sửa quay trở vào bờ, thì trời đổ mưa... Rồi chớp nhoáng như xé mây đen, rồi sấm sét như trời long đất lở. Chiếc thuyền nan nhỏ, đầy nước, nặng trĩu. Hai người cố bơi, nhưng vẫn bị sức nước kéo phăng đi... Bỗng hai tiếng kêu cùng một lúc: - Giời ôi ! Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp... Chồng hỏi vợ: - Mình liệu bơi được đến bờ không? Vợ quả quyết: - Được! - Theo dòng nước mà bơi... Gối lên sóng! - Được! Mặc em! Mưa vẫn to, sấm chớp vẫn dữ. Hai người tưởng mình sống trong vực sâu thẳm. Một lúc sau, Thức thấy vợ đã đuối sức, liền bơi lại gần hỏi: - Thế nào? - Được! Mặc em! Vợ vừa nói buông lời thì cái đầu chìm lỉm. Cố hết sức bình sinh nàng lại mới ngoi lên được mặt nước. Chồng vội vàng đến cứu. Rồi một tay xốc vợ, một tay bơi. Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng. Chồng cũng mỉm cười. Một lúc, Thức kêu: - Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi! Tôi không xốc nổi được mình nữa. Mấy phút sau chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh tay rã rời. Vợ khẽ hỏi: - Có bơi được nữa không? - Không biết. Nhưng một mình thì chắc được. - Em buông ra cho mình vào nhé? Chồng cười: - Không! Cùng chết cả. Một lát, một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày, chồng lại hỏi: - Lạc ơi! Liệu có cố bơi được nữa không? - Không!... Sao? - Không. Thôi đành chết cả đôi. Bỗng Lạc run run khẽ nói: - Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!... Không!... Anh phải sống! Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để chìm xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ.
ooOoo
Đèn điện sáng rực suốt bờ sông. Gió đã im, sóng đã lặng. Một người đàn ông bế một đứa con trai ngồi khóc. Hai đứa con gái nhỏ đứng bên cạnh. Đó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối cùng linh hồn kẻ đã hy sinh vì lòng thương con.
Trong cảnh bao la, nước sông vẫn lãnh đạm chảy xuôi dòng Khai Hung
 Bến đò Đồng Đức càng ngày càng nhiều khách tới lui. Bây giờ không còn mùa đông mưa phùn rây mờ sông nước, không còn họ hàng lũ ruồi nhặng sợ rét, lười biếng đâu trên sợi dây lòng thòng để treo chuối, treo ngãn bám vào liếp, vào tường tròn ba tháng rét mướt đìu hiu. Dân thành phố tản cư về đồng ruộng. Họ mang theo niềm vui và cuộc sống mới mẻ khiến quê ngoại nhà tôi tấp nập, ồn ào. Nằm nghe tiếng chim cu gáy buổi trưa, tôi cảm thấy bớt buồn tẻ. Kỷ niệm tràn lụt đầu óc tôi bằng những bộ mặt sáng sủa, những điệu cười hồn nhiên của đám trẻ nhỏ thành thị trạc tuổi em Mai. Tôi nghĩ, giá anh em tôi không phải sống hẩm hiu ở quê ngoại thì lúc này đây, chúng tôi cũng biết tung tăng dắt tay nhau chuyện trò dưới ánh trăng đồng nội. Chứ đâu chịu lạc lõng trong đêm tối, nhìn bóng mẹ gầy yếu run rẩy cơ hồ chiếc lá sắp lìa cành. Bất giác, tôi nhớ cha tôi và nước mắt phủ mờ...
Mẹ tôi bảo thoạt tiên cha tôi đánh đàn thập lục cho ban hát cải lương lưu động. Dạo ấy danh từ nghệ sĩ còn xa lạ nên ông bầu coi cha tôi ngang chức anh lao công. Làm việc từ tám giờ tối tới hai giờ khuya. Tiền thù lao dè xẻng mới đủ nuôi một vợ, một con. Trong gánh hát, cha bị bạn đồng nghiệp chê bai tài đàn non nớt hay tâu hót với ông bầu vài điều lầm lẫn của cha tôi. Thì cha tôi hậm hực nguyền rủa thói đời đen bạc. Chán rồi, cha tôi trách ông phó Nhị. Giá ông phó truyền đủ ngón trứ danh, chắn chắn sự nghiệp cha tôi đỡ méo mó. Tôi cố mường tượng cái cảnh hậu trường sân khấu giữa mùa hè nóng nực, cha tôi cởi trần biểu diễn tài nghệ, dìu điệu ca cho đào kép ngọt giọng. Mồ hôi, có khi cả nước mắt, rơi rụng trên mười sáu sợi tơ đồng đổi miếng cơm hẩm manh áo thô. Về sau có lần giận đời, cha tôi đập đàn giải nghệ.
Khi tôi hiểu biết, thấy đời cha tôi lẩn quẩn trong hai câu thơ của bài hát nói cha tôi khai bút nhân dịp năm mới: "Ông Lái thuốc bắt đầu, ông Phó, ông Ký, ông Chủ, ông Thầu, ông Lang..." Mỗi chuỗi nghề nghiệp quàng vào cổ cha tôi. Lên voi xuống chó, xuống chó lên voi... Tội nghiệp cha tôi, người còn chút tâm hồn để không nỡ gọi tài đánh đàn là nghề kiếm cơm.
Từ ông lái thuốc bắc đến ông lang băm chế thuốc cao đan hoàn tán. Chao ôi, tôi phải viết thế nào đây cho thật linh động từng cảnh cha tôi ngồi chế thuốc cam bằng thuyền gang, ngồi thái thuốc sống bằng dao cầu, ngồi xao thuốc bổ bằng nồi rang đất và hoàn và viên thuốc tễ? Làm sao ai chứa chất được trọn vẹn ngần kia mẫu đời. Thế mà cha tôi, trời ơi! Tôi muốn làm một khán giả vô tư nhỏ lệ tiếc thương gã nghệ sĩ sinh nhầm xứ sở.
Có bận túng bấn quá, cha mẹ tôi phải chia nhau mỗi người một chợ đem thuốc hoàn, thuốc tán trị các bệnh cam sài thai đẹn, ho hen, giun sán ra bày ngổn ngang trên manh chiếu hẹp dưới quán chợ. Mẹ tôi bán quanh quẩn mấy chợ gần miền bể như chợ Tiểu Hoàng... Sáng sớm mẹ đi, xế chiều mẹ về săn sóc anh em tôi. Còn cha tôi xách chiếc va ly lớn lễ mễ sang mãi tận Thần đầu, Thần huống. Cha tôi đi hàng tuần mới trở lại, nói là vừa bán thuốc vừa thăm dò xem bên sông Trà Lý có dễ kiếm ăn thì cho gia đình sang.
Những chuyến cha tôi vắng nhà, mẹ tôi xuôi ngược tần tảo, anh em tôi nương bóng nhau cầu nguyện. Nghe mẹ tôi bảo sóng sông Trà dữ tợn. "Sóng cửa Trà, mà cửa Hộ", em Mai chỉ sợ phà đắm.Tôi dỗ dành em tôi rằng cha tôi sống tới tám mươi tuổi để xem anh em tôi khôn lớn. Em Mai thường khóc tỏ vẻ lo ngại. Khốn nạn, cha mẹ tôi nghèo nàn, còn tình thương mến nhưng tình thương mến không nuôi sống được con nên muốn con no lành đã phải xa con, cực nhọc. Tôi cứ nghĩ đến lúc cha mẹ tôi ngồi dọn hàng khi chợ chiều tan vắng. Ánh nắng vàng vọt quê mùa chiếu vào khuôn mặt thê thảm vì nhớ con, vì ế hàng của cha tôi chắc đau thương lắm.
Ít tháng sau cha tôi bỏ nghề lang thuốc. Cha tôi sắm ít dụng cụ chữa xe đạp. Người ta đặt tên mới cho cha tôi: ông Phó. Cha tôi sửa chữa, lau dầu, vá chín, vá sống săm lốp xe đạp, xe tay. Nếu ai cần tô điểm xe mình thì cha tôi cũng biết sơn xì, sơn hấp, mạ kền bằng... ngân nhũ. Nhiều lần nhìn cha tôi nghiến răng vặn cái ốc lâu ngày thiếu dầu mỡ, lòng tôi thắt lại. Tay cha tôi mạch máu nổi bật, chằng chịt. Có khi "lắc lê" nhờn, tuột mạnh bật tay ra. Cha tôi mất đà, chúi về một bên. Thường thường, tay cha tôi bị xước da, máu chảy ri rỉ. Cha tôi mải mê công việc không để ý, đưa tay vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trên trán. Máu ở vết thương được dịp hòa với mồ hôi... Nhưng cha tôi nín lặng không kêu ca, không than vãn, không kể lể với vợ con. Sự nín lặng đó tôi đã khổ tâm học hỏi song tôi thấy tôi thất vọng. Vì, cho tới ngày nay, hễ gặp bất cứ con rắn độc cuộc đời nào, dù lớn dù nhỏ, cắn đau hay cắn hụt, tôi vẫn thích tìm người băng bó hộ.
Tò mò, tôi hỏi cha tôi học nghề sửa xe bao giờ, cha tôi mỉm cười: "Cái khó sinh ra cái khôn con ạ!". Tôi nghi ngờ rồi phỏng chừng cha tôi học lỏm hay cha đã từng làm thợ phụ cơm nhà việc người. Lại thêm hình ảnh thui chột của chú "học nghề" nữa!
Hồi gia đình tôi ở Hà Nội về Thái Bình rồi dọn xuống miền bể, em Mai bé bỏng nên em chưa cảm được nỗi buồn biển động cuối mùa đông. Dường như, bể giận dữ tận ngoài khơi bãi Đồng Châu. Tiếng gầm gừ vọng tới nghe ghê rợn. Cha tôi khởi nghiệp chữa xe tại đây, tại ngã ba chợ huyện Tiền Hải, dưới gốc cây gạo to lớn, sù sì, gai góc. Những buổi chiều rét mướt, cha tôi ngồi co ro khâu mép lốp đứt "tanh" hay phồng mang trợn mắt thổi than hồng trong lò máy vá chín. Cha tôi nhặt nhạnh từ năm hào bơm thuê cho anh phu xe tay, chẳng nề hà việc dầu mỡ. Bởi vậy, cả sau lúc ngưng làm để vuốt ve anh em tôi, tay cha tôi, dẫu rửa sà phòng, vẫn còn đầy vết dầu lem luốc. Em Mai hay kéo đôi tay cha tôi đùa bỡn:
- Tay cha tôi đen như nhọ nồi.
Cha tôi cười:
- Trắng như bông mà con dám bảo đen. À, đố con biết tại sao tay phải cha dài hơn tay trái?
- Con chịu.
- Tại tay phải cha vặn "lắc lê". Cha vặn mạnh quá nên xương nó giãn ra.
Em Mai ngớ ngẩn:
- Con không thích tay phải cha dài đâu, cha làm cho nó ngắn bằng tay trái đi cha. Có được không hở, cha?
Cha tôi suy nghĩ giây lát, đoạn vỗ về em:
- Khó gì, rồi cha bỏ vặn "lắc lê" thì nó hết dài.
Tôi thương cha tôi, dĩ nhiên, nhưng thương bao nhiêu mới vừa? Cha tôi ít nói. Chắc chắn nỗi ray rứt vì mẹ con nheo nhóc ám ảnh cha tôi, làm cha tôi uất nghẹn: sự uất nghẹn của người không câm song không nói được. Dạo ấy, gạo kém, mẹ tôi phải chạy vay đong từng bữa một. Thoạt đầu, sáng ăn cầm dạ, chiều ăn no. Sau, sáng cha mẹ tôi nhịn chỉ thổi niêu nhỏ cho anh em tôi. Em Mai ăn xong còn thòm thèm. Cha tôi nhìn em, mắt đỏ ngầu. Mẹ tôi chạy vội xuống bếp. Tôi thương hại em, tập nhịn để em được ăn nhiều. Hôm thứ nhất, em bảo tôi:
- Sao anh không ăn?
Tôi nói dối:
- Tại anh đau bụng.
Em tôi tưởng thật:
- Thế em để phần anh vậy nhé?
Tôi cười xua tay:
- Đau bụng ăn cơm nguội thế nào được. Em ăn đi, ăn nhiều chóng lớn.
Hôm thứ hai, tôi cũng bỏ bữa sáng ân huệ của con nhà nghèo. Em tôi hỏi han vớ vẩn. Tôi phải trả lời tôi ăn sáng với em thì trưa ăn mất ngon. Nghĩ sao, em tôi giận tôi, em chẳng thèm ăn nữa. Em bắt chước nhịn đến trưa. Mẹ tôi mắng em. Em khóc, em kêu đau bụng. Như thế, em tôi hiểu chuyện rồi. Em tôi rủ tôi ra đường cái, ghé sát vào tai tôi thì thầm:
- Thật anh nhỉ, ăn bữa sáng, trưa ăn mất ngon.
Chúng tôi nhìn nhau. Chua xót. May mắn là tình cảnh ăn đong thiếu thốn rất ngắn ngủi. Gạo dần dần hơn. Nhà tôi lại tiếp tục hai bữa no nê. Đấy là những câu chuyện buồn của gia đình tôi. Nhưng chuyện khiến tôi nhớ mãi là chuyện sau đây:
Hôm cha tôi đang đánh nháp miếng lốp nổ thì một bà sang trọng tới gần. Bà ta nhìn cha tôi lúc lâu rồi mới ngại ngần hỏi:
- Bác làm ơn chỉ giùm tôi ông lang...
Bà ta quên tên ông lang. Cha tôi ngừng tay, lễ phép nói:
- Thưa bà, bà cho biết tên ông lang là gì ạ?
Móc trong túi mảnh giấy nhỏ ghi bút chì lờ mờ, bà ta lẩm nhẩm đọc:
- Ông Mai Viên bác phó ạ! Bà bạn tôi mách rằng ông Mai Viên chữa bệnh giỏi. Tôi từ phủ Kiến Xương xuống xin ông cái đơn. Bà bạn tôi trước là chỗ quen thân ông Mai Viên.
Như cái lò xo, cha tôi đứng thẳng dậy, trịnh trọng giới thiệu tựa hồ anh hề trên sân khấu giây phút sắp mở màn.
- Thưa bà... tôi là Mai Viên...
Bà khách lạ tròn xoe mắt. Bây giờ, cha tôi mới kịp để ý cái hình hài tiều tụy của lão phó chữa xe đạp dưới gốc cây gạo ngã ba chợ huyện Tiền Hải. Quần đùi đen, áo sơ mi ngắn tay nham nhở dầu mỡ mồ hôi. Chân tay sần sùi, thô lỗ... Còn giữ được đôi mắt, vầng trán rộng. Nhưng xấu hổ quá, tê tái quá, đôi mắt vội mờ đi và vầng trán lâm râm những giọt mồ hôi, những giọt mồ hôi tình cờ toát ra một buổi trời lạnh nhất. Cha tôi cúi xuống, nói rất nhỏ:
- Thưa bà tôi giải nghệ... lang thuốc rồi. Song nếu bà...
Cha tôi muốn nói thêm "nếu bà bỏ qua hình ảnh bác thợ chữa xe thì tôi sẵn lòng tiếp bà". Khốn nỗi, dù đã từng phen trầy trụa với cuộc đời, cha tôi vẫn tự ái để cứu vãn chút liêm sĩ tuy chẳng cần cứu vãn. Bà khách hình như cảm thông sự lên bổng xuống trầm của kiếp người, bà ta ngượng ngùng mãi mới thốt gọn ba tiếng "xin lỗi ông". Cha tôi mời bà ta vào nhà.
- Bà ở phủ Kiến chắc quen gia đình ông Phán Lâm?
- Thưa ông, bà Phán chỉ đường tôi mới rõ, chứ dễ chi.
- Trước kia...
- Vâng ạ! Bà Phán đã nói nhiều về ông. Tôi xin lỗi ông lần nữa vì cử chỉ vô lễ ban nãy.
- Thưa bà không hề gì ạ! Bà đừng bận tâm.
Cha tôi kê tặng bà khách ấy đơn thuốc bổ theo đúng lời viết quảng dán tường ngày xưa "xem mạch kê đơn không lấy tiền". Khi về, bà khách rút tiền cho tôi. Tôi từ chối, bỏ chạy mất. Đêm ấy, dưới ánh đèn dầu lạc tẩm bấc thắp đĩa, đêm dầy đặc, suy tư. Tôi nghe từng hơi thở dài sầu hận của cha tôi. Bất giác, tôi òa lên khóc khiến em Mai cũng khóc. Cha tôi xoa đầu anh em tôi an ủi:
- Nín ngay con, rồi các con sẽ sung sướng.
Tôi gục đầu xuống đùi cha tôi, ôm chầm lấy thân thể gầy yếu, ôm chầm lấy tấm lòng thương mến bao la mà rên xiết.
- Cha ơi! Con thương cha.
Giọng cha tôi tha thiết, bao giờ cha tôi cũng tha thiết với vợ con:
- Thương cha thì ngủ đi, sau này đừng giống cha nhé con, giống cha khổ lắm. Nhất nghệ tinh con ạ!
Nhưng anh em tôi không ngủ. Ngọn đèn gió thổi tắt rồi. Căn nhà tối om. Anh em tôi ngồi sát nhau hơn. Chúng tôi cùng im lặng nhìn ngày mai bằng bốn con mắt mờ lệ trong đêm vắng. Khổ thân em tôi, lớn dần để xem cuộc đời cha xuống dốc thảm hại. Em tôi nắm chặt lấy tay tôi như thầm nhủ, như trao gửi niềm tin. Tôi nghe rõ tiếng nước nhỏ giọt xuống chiếu.
Một sớm tháng hai, hoa gạo nở đỏ ối và bắt đầu rụng. Cha tôi vẫn co ro ngồi dưới gốc cây. Trên đầu cha tôi đủ các loài chim thi nhau ca inh ỏi. Chợt một con bậy bạ trúng giữa mái tóc cha tôi trắng xóa. Cha tôi nhìn lên xem có phải phân quạ. Vì nếu phân quạ sẽ gặp niềm rủi ro. Khốn nạn, cha tôi vừa ngẩng mặt nhìn lên thì chiếc hoa gạo to hơn nắm tay rơi giữa mặt. May mắn, cuống hoa ngược chiều nên những cánh hoa nát bét trên khuôn mặt của cha tôi như thể cha tôi bị đạn bắn vỡ mặt. Anh em tôi chạy lại quỳ xuống, cuống quít:
- Cha có đau không hở, cha?
- Cha có mở được mắt không?
Cha tôi nói:
- Đau gì mà đau, cái hoa đó mà...
Giọng em Mai run run:
- Con thấy nó kêu đánh "bốp". Chắc cha đau, cha nói dối. Con thì con khóc rồi. Cha đau thật hở, cha?
- Cái hoa nhẹ như bấc thì đau nỗi gì. Cha chỉ đau vì...
Tôi hỏi gặng:
- Vì sao cơ ạ?
- Vì... các con khổ sở!
Cha tôi rươm rướm nước mắt. Anh em tôi cúi đầu.
Mặc dù bé bỏng, anh em tôi cũng nhận ra hình ảnh cuộc đời cha tôi. Một hình ảnh bằng bao nhiêu hình ảnh nham nhở khắc khoải, què quặt. Tôi cầm tay cha tôi, nói nhỏ:
- Con sung sướng chứ có khổ đâu?
Em Mai cũng hối hả:
- Con chả khổ gì cha ạ!
Cha tôi mỉm cười gượng gạo:
- Các con nói dối.
Tôi nắm chặt tay cha tôi hơn:
- Lúc nào gần cha mẹ là các con sung sướng rồi.
Em Mai ôm đầu cha thủ thỉ:
- Con yêu cha.
- Yêu cha thì phải chăm học các con nhé, Hữu nhé! Nhất nghệ tinh...
Luôn luôn cha tôi nói "nhất nghệ tinh"... Tôi nhìn cha tôi, thấy má bên trái con dính chút máu hoa gạo. Đưa vạt áo lau sạch vết nhơ ấy, tôi giục:
- Cha vào gội đầu kẻo bẩn.
- Điềm may đấy con ạ! Hoa rơi là sang năm cha con mình giàu. Cha sẽ tậu nhà ngói trên tỉnh, con có cái xe đạp nhỏ đi học.
- Thế mẹ con?
- Mẹ con thì.. Ờ, ờ, khó nghĩ quá. Con chọn quà biếu mẹ xem nào.
- Mẹ con thôi bán xôi chè này, mẹ ở nhà khâu vá quần áo với lại kể chuyện ma này. Cha cho tiền con mua cái tráp đựng trầu biếu mẹ con nhá! Em Mai muốn mua biếu mẹ xâu tràng hạt để mẹ niệm Phật cha ạ!
- Ừ, ừ con muốn gì cũng được.
- Em Mai có búp bê, có ô tô, có tàu thủy, có nhiều thứ lắm. Em Mai không phải chơi đồ chơi bằng vỏ hến, nút chai...
Em tôi thích chí cười hớn hở. Đôi má núm đồng tiền xinh xinh tệ. Em làm nũng:
- Áo con rách rồi, cha mua áo cho con trước nhất cha nhé.
Cha tôi bỗng giật mình. Đôi mắt đang sáng rực mộng ước, phút chốc mờ đi, buồn. Cha tôi ngắm anh em tôi rồi khẽ gật đầu nói nhỏ:
- Ừ, mai cha mua áo cho con.
Hôm sau, nhằm ngày phiên chợ, cha tôi bỏ việc dẫn anh em tôi đi mua áo. Chợ phiên đông đúc, cha con dắt díu nhau chỉ sợ lạc. Qua hàng nước dừa, cha tôi cho mỗi đứa uống một cốc nhỏ năm hào. Hết quán này, quán khác mà chẳng thấy cha tôi nhắc chuyện áo làm em Mai thấp thỏm. Mãi cha tôi mới kéo anh em tôi đến hàng quần áo may sẵn có vô số người xúm lại mặc cả. Anh em tôi len lọt được vào. Em Mai nhìn những chiếc áo cánh trắng rồi nhặt vài chiếc để ướm thử. Mắt em long lanh nhưng cha tôi thì nét mặt tự nhiên tái chợt, đôi tay run run cơ hồ như sốt rét. Cha tôi hỏi giá, người bán trả lời. Thêm thêm bớt bớt chán chê, rốt cuộc, cha tôi không dám nhất định vì sợ hớ. Em tôi trống ngực đánh thình thịch, nửa mừng nửa lo. Tôi biết giá có manh áo kia, em tôi hả hê vô vàn. "Già được bát canh, trẻ manh áo mới" mà. Cha tôi cũng biết thế, song người bán hàng chẳng thèm biết. Cha tôi đứng tần ngần. Tôi phỏng chừng cha tôi thiếu tiền.
Vuốt mái tóc em Mai, cha tôi an ủi:
- Hai anh em ra kia chờ cha nhé! Ra kia kẻo nó bắt bí. Thế nào cha cũng mua cho con.
Em tôi nuốt nước bọt ừng ực. Cha tôi đưa chúng tôi khuất khỏi hàng quần áo. Dặn dò xong, cha vội vàng đi. Trông theo cha, lòng tôi bâng khuâng tê tái. Anh em tôi đợi hàng nửa giờ mà cha tôi vẫn chưa trở lại. Chợ càng đông, tiếng ồn ào huyên náo. Anh em tôi không nghe rõ nữa. Tâm hồn em Mai hướng về manh áo, còn tâm hồn tôi thì không hiểu vì sao bối rối vô cùng. Em Mai cứ luôn miệng hỏi khiến tôi nóng ruột quá. Nắng mùa xuân hừng hực trên đầu chúng tôi. Nắm chặt tay em, tôi dìu em về phía hàng áo.
Bỗng anh em tôi thấy từ các hàng áo ban nãy người ta xô nhau giãn lối. Người bán hàng tức giận đỏ mặt lên, hét lớn:
- Ăn cắp, ăn cắp! Gớm nhanh như chớp, vừa mới quay đi mà nó đã thó mất rồi.
Tôi hoảng hồn, mắt lơ láo tìm cha. Song cha tôi không có trong đám đông trước mặt. Em Mai khóc bù lu bù loa, dỗ mãi em mới nín. Trong khi đó, người bán hàng quai mồm ra chửi bới hết lời. Hắn dọa nếu tóm được cổ kẻ cắp, sẽ đánh róc xương. Tôi chờ, chờ gần xế trưa thì ngờ rằng cha tôi lo kiếm anh em tôi và chắc chắn, đợi anh em tôi ở nhà. Tôi lớn không sợ lạc nữa nên cha tôi cũng có thể về trước. Nghĩ vậy, Tôi trở lại nhà. Anh em tôi buồn thiu, thẫn thờ bước như hai đứa trẻ ăn mày.
Về nhà, mẹ tôi bảo cha tôi bị cảm đang nằm đắp chăn rên hừ hừ. Anh em tôi xúm tới hỏi han. Cha tôi nín thinh không đáp. Em Mai sợ cha phật ý nên không hỏi đến chuyện áo mới nữa. Cả buổi chiều hôm ấy, không khí gia đình tôi nặng nề, khó thở. Đến tối, cha tôi bớt sốt, cha gọi anh em tôi tới gần xoa đầu, nắm tay như thường lệ. Cha tôi nói mua áo xong thì cha tôi cảm thấy choáng váng mặt mày, quên mất chỗ anh em tôi chờ đợi. Rồi cha tôi cắm cổ chạy về. Nghe cha kể chuyện anh em tôi vui mừng, sung sướng. Em Mai tôi hỏi:
- Cha mua áo cho con rồi hở cha?
- Ừ, đây này.
Cha tôi lật chiếu đầu giường nhấc chiếc áo ra. Em Mai vồ lấy ướm thử. Em thay áo cũ mặc áo mới vào. Em khoe tôi:
- Đẹp không anh Hữu?
- Đẹp lắm.
- Đẹp không cha?
Em Mai chợt nhớ điều gì, khuôn mặt ngây thơ nhí nhảnh phút chốc thoáng buồn. Em nói:
- Áo anh Hữu rách lưng cha ạ!
- Để phiên sau cha mua.
Tôi vội nói:
- Áo con vá được, cha đừng mua tốn tiền.
Giữa lúc ấy, mẹ tôi ở dưới bếp bước lên, em Mai níu mẹ, nũng nịu:
- Cha mua áo cho con mẹ ạ!
Mẹ tôi ngạc nhiên hỏi cha tôi:
- Tiền đâu mà cha mua áo cho con?
Cha tôi thản nhiên:
- Vay của bác Cẩm sáng sớm nay.
- Bác Cẩm đi Thái Ninh từ hôm kia cơ mà!
Cha tôi lặng thinh. Mẹ tôi không hiểu gì cũng lặng thinh. Tôi nhìn cha tôi. Cha tôi nhìn mẹ con tôi. Mắt cha tôi long lanh. Bóng cha tôi gầy gò in hình trên bức tường vôi loang lở. Có ai ngờ cái thân thể gầy gò kia lại bọc nổi tình thương yêu rộng lớn như con ốc nhỏ thu gọn cả đại dương trong lòng mà vẫn câm nín. Câm nín suốt đời. Tôi muốn ôm cha tôi, muốn xé rách làn da ngực để được nói vào trái tim cao cả của cha tôi rằng "Cha ơi! Cha vì anh em con mà phải như thế... Con sẽ làm gì cho xứng đáng sự hy sinh đó của cha!" Nhưng làm sao mà nói? Cảm xúc đã nghẹn cả lời. Tôi òa lên khóc. Cha tôi giật mình hỏi:
- Sao con khóc?
- Con thương cha.
- Nín đi... để dành nước mắt chứ chú bé. Khóc nhiều hết thì sao?
Tôi chưa nín. Vì nghĩ tới suối sầu bắt nguồn từ túp lều tranh bên gốc chuối tiêu chảy róc rách, róc rách qua hồn anh em tôi. Suối sầu này còn chảy mãi. Và còn chảy, nước mắt còn rơi, không lo khô cạn.
Sau đấy, cha tôi bị ám ảnh bởi chiếc áo ăn cắp ngoài chợ, trừ tôi, không ai rõ, cha tôi đau ốm liên miên. Tuy nhiên, cha tôi vẫn vẽ bao ước mộng. Anh em tôi mong ngày tháng lụn dần, sang năm chóng đến. Song sang năm chưa kịp đến với nhà ngói ở tỉnh, với búp bê, với tàu thủy, với xe đạp thì cha tôi nhuốm bệnh thương hàn. Tôi cố nghiến răng giữ kín chuyện nên khi cha tôi chết cha tôi vẫn tưởng sự bí mật theo cha xuống lòng mộ.
Cha tôi chết, mẹ con tôi nheo nhóc bơ vơ. Mẹ tôi năm tháng ngồi đan nỗi buồn ở bến đò Đồng Đức. Anh em tôi nhìn đám trẻ thành thị rồi vội vàng cúi gầm mặt qua sân nhà ông ngoại, làm rơi mất tuổi thơ. Duyên Anh  Anh nằm đó, bất động. Ðầu anh quấn trong cuộn băng dầy. Một bên mắt bầm tím, sưng vù. Mắt kia nhắm nghiền. Môi khô, nứt nẻ. Máu ứa ra từ những vết nứt đọng trên khoé mép. Cả nửa thân người anh cũng cuốn trong một lớp băng. Anh nằm thoi thóp. Cơn hôn mê đã kéo dài ba ngày. Anh chỉ tỉnh lại được một giấc thật ngắn vào tối hôm qua. Da tay anh xanh xám. Bùn đất còn đọng trong kẽ những móng tay. Chân phải bó bột được kéo lên ngang thành giường, lòi ra những ngón chân đen xạm. Sợi dây truyền nước biển chảy thõng xuống lưng bàn tay. Cô nấc lên, nghẹn ngào. Cô cắn răng nuốt nỗi đau quặn buốt nơi trái tim mình, nhưng nước mắt vẫn trào ra. Cô rên thầm:' ' Quỳnh ơi! Ðừng bỏ em mà đi nghe Quỳnh!!...; những người như anh không thể...'' Thoáng nghĩ tới đây, cô bỗng khựng lại. Chỉ mới tháng trước, cô đã có một quyết định táo bạo: cô quyết định lên thăm anh ở nơi trung đoàn anh đang hành quân. Khi ấy, đơn vị của anh vừa thoát một trận phục kích. Cô đã có ý định cho anh tất cả. Thời chiến, không ai biết ra sao ngày mai. Với anh, cô không có điều chi phải giữ gìn. Cô tin nơi anh. Cô tin ở tình yêu của anh. Những lần về phép, ghé thăm gia đình cô, đưa cô đi phố, anh chiều cô mọi thứ, nhưng anh không hề đòi hỏi ở cô bất cứ điều gì. Với cô, tình yêu anh dành cho cô không khác những ngày đầu.
Năm Linh học đệ tứ thì người anh thứ ba của cô dắt về nhà một bạn học thời trung học. Anh cô xong Tú Tài Hai, học Triết ở Văn Khoa, rồi động viên vào khoá 24 Thủ Ðức. Ra trường, Sơn về một tiểu đoàn Chiến Tranh Chính Trị thuộc vùng châu thổ sông Cửu Long. Bạn anh là Quỳnh, lúc đó đang theo học chứng chỉ Hoá ở Ðại Học Khoa Học. Mới nói chuyện với bạn anh mình một lần, cô đã có cảm tình. Ðó là một thanh niên có nét mặt tươi, cặp mắt sáng và đôi môi đầy đặn. Anh đùa với cô như với một đứa em gái nhỏ bé. Còn bố cô, ông trung tá già một đời lăn lộn trận mạc thì ông thấy ưa thằng bạn con ông ở chỗ lễ độ, biết trên, biết dưới, và cũng vì nó là cháu của một ông tướng đã có lúc là đơn vị trưởng của ông. Ông không hạp lắm với thằng con ' Chiến Tranh Chính Trị'. Mồm nó quàng quạc như một con gà mái. Ông không hiểu nhiều về Chiến Tranh và Con Người, nhưng ông hiểu rõ những chiến trường và cái giá bằng máu mà những người lính phải trả. Ông thuộc nằm lòng những thằng lính trận ba gai của ông, cũng như ông đã quá quen thuộc những cuộc hành quân cấp đại đội, tiểu đoàn. Ông thường hay kể cho các con ông những trận đánh lớn mà ông đã từng tham dự: từ trận nhảy dù xuống Lai Châu, Nghiã Lộ cho đến những cuộc hành quân truy lùng Ba Cụt. Cô đã từng nhìn thấy bố cô đánh lính. Ông dùng ba toong quật tới tấp lên lưng, lên đầu mấy gã lính bặm trợn; ông bợp tai, đá đít, giộng vào mặt; ông đánh cho bò lê bò càng. Ông chửi: '' Ð.m. mày, lính mà đi phá làng, phá xóm à? Tao đánh thấy con đĩ mẹ mày; lưu manh, côn đồ, tao trị theo lưu manh côn đồ. Sắt tao còn uốn được nữa là...'' Ông dữ vậy, nhưng bọn lính trẻ vẫn yêu ông. Nhiều lần ông ở trần nhậu xả láng với bọn chúng, và có lần chúng còn đưa ông lên xóm chị em ta ở Ngã Ba Chú Iá. Ông là 'Bố Già' của chúng. Nhưng mỗi lần Quỳnh lại nhà chơi, ông đều khuyên nhủ:'' đời lính gian nan và nguy hiểm lắm; còn học được ngày nào thì rán mà học cháu à.'' Ông đã nói như bất cứ một bậc cha chú nào thương con cháu mình. Có điều, anh nghe trong giọng nói của ông như có tiếng vọng của một người lính già mệt mỏi. Mẹ cô, một phụ nữ tần tảo lớn lên ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ, là điển hình của những bà mẹ VN chỉ biết chồng và những đứa con. Những khi cô đỏng đảnh, làm đỏm trước khi ra khỏi nhà, bà lại mắng yêu cô con gái: '' Bố mày, con nhà lính mà tính nhà quan''. Những lần như thế, cô cong cớn:'' Thế Bố chẳng là quan là gì?''
Quyết định nhập ngũ của Quỳnh làm mọi người trong nhà ngạc nhiên, trừ cha anh. Xong chứng chỉ Hoá anh đã có thể tiếp tục xin hoãn dịch, nhưng không hiểu sao anh đã trình diện khoá 26 T.Ð.. Cha anh là một nhà viết sử. Ông đã giải ngũ từ lâu. Bà đã mất. Ông ở vậy nuôi các con. Ông tôn trọng tự do của các con về mọi mặt, từ chuyện yêu đương, đến chuyện xã hội, nghề nghiệp. Ông chỉ dặn : '' sống sao cũng được, miễn cho ra người; và nhất là lúc nào cũng phải cố gắng.'' Bà chị của Quỳnh nghe vậy, quay qua cười, nói với các em: ''Ba vậy mà chẳng phải dễ dàng đâu; sống cho ra người khó lắm đấy nghe tụi bây!'' Còn Quỳnh, sau này vào Thủ Ðức, mỗi lần nghe hô 'Tan hàng, cố gắng,' anh lại thấy tức cười. Năm Quỳnh học đệ nhất, ngồi vào bàn học, dở một vài trang 'Luận lý học' của linh mục Trần văn Hiến Minh, ông xà vào, liếc thấy có tên Platon, Descartes,...ông đã bàn ngang: '' Những suy tư có tính cách triết học có thể làm người ta khôn ngoan ra, nhưng làm quen với nó sớm quá cũng có thể khiến người ta dễ bị do dự trong nhiều việc.'' Với ông, không có chỗ cho những kẻ lưng chừng. Hoặc anh ở bên này, hoặc anh ở bên kia. Làm gì có chuyện 'không Tư bản mà cũng chẳng Cộng sản'. Ðiều đó chỉ có trong trí tưởng của mấy anh trí thức gàn dở. Với bọn này thì vừa nhử bằng cà-rốt, vừa quất bằng roi là chúng chừa cái tật hoang tưởng, tự cao tự đại của chúng. Ông ở hẳn về phiá bên này: anh em, họ hàng, bạn bè ông đều ở bên này cả. Ðến phiên anh, khi anh lại nhà bạn chơi, thấy cô em bạn nay đã lên đệ nhất, trong tay cầm cuốn Tâm lý học, cũng của cha Minh, anh đã nói đùa: '' Học Triết không khó đâu em, nhưng học sống khó lắm.'' Cô chẳng cần biết học sống ra sao; nhưng cô thấy học triết rắc rối, phức tạp, khó khăn quá chừng. Cô thấy thèm nhớ những tháng học thong thả đầu năm đệ nhị ở trường Nguyễn Bá Tòng, và những câu chuyện lí lắc mà con bạn ngồi cạnh cô thường kể với cô về anh chàng bồ không quân những lần chúng nó đi chơi với nhau vào cuối tuần. Từ năm đệ tam đã có nhiều đứa bạn cùng lớp rắp ranh bắn sẻ ,nhưng với cô, bọn chúng chỉ là lũ nhí học đòi làm người lớn. Cô nghĩ đến anh. Anh là người bạn đàng hoàng nhất trong đám bạn nhốn nháo cuả các anh cô. Ðã có lúc cô thấy nhớ nhớ, nhất là sau hàng tháng anh không lại nhà chơi, từ khi anh cô đổi xuống Vĩnh Long. Quỳnh bất ngờ tạt ngang nhà Linh khi anh từ Thủ Ðức được về phép cuối tuần. Sơn đã đổi về Sàigòn. Sơn rủ Linh đi coi phim 'Tần Thủy Hoàng', đang trình chiếu ở rạp Rex. Tiện có cô em gái ở nhà, Sơn rủ em cùng đi, nhưng đến khi sắp ra khỏi nhà thì Sơn nhận được một cú điện thoại từ đơn vị. Sơn phải vào trình diện đơn vị gấp. Quỳnh đã đưa Linh đi coi chiếu phim. Cô thấy lúng túng, mà lòng cô thì đang reo vui. Hình như định mệnh cũng đã an bài : Linh theo sau Quỳnh bước vào rạp. Ngang chỗ soát v�%A 9, cô bỗng vấp phải gờ cửa. Cô chới với níu lấy anh. Ngực cô ịn vào bờ lưng dầy và ấm của anh. Anh nghe thấy hơi thở nóng và gấp của cô bên tai mình. Anh vội xoay người đỡ lấy cô. Anh nhìn cô! Cô nhìn anh! Hai người nhìn nhau mà như chẳng thấy chi cả! Họ chỉ thấy trong đáy mắt nhau những tia sáng lấp lánh hắt xuống từ những ngọn đèn trang trí trên tường bên trong rạp như một trời sao vời vợi. Bất giác anh thấy bàn tay cô xiết chặt lấy bàn tay anh và anh cũng từ từ nắm thật chặt lấy những bàn tay nhỏ, ấm và mềm mại đến vô cùng ấy. Suốt buổi phim, khi đã vào ghế ngồi, họ không nói với nhau một lời; nhưng anh đã nghe mùi chùm kết ngan ngát toả ra từ bờ tóc dầy của cô. Cô đã tựa đầu vào vai anh tự lúc nào...
Ra về. Họ dìu nhau dưới những tàn me lớn. Anh nghe rõ tiếng lá me xôn xao rơi rất đỗi nhẹ nhàng trên vai áo nàng. Còn nàng, nàng thảng thốt nghĩ đến lúc chia tay gần kề, khi anh phải trở lại quân trường.
Anh đưa nàng về nhà. Cô dáo dác nhìn quanh. Nhà trên không có ai. Cô ghì anh xuống hôn lấy, hôn để. Và khi anh đã ra khỏi nhà, cô còn cảm thấy hơi ấm của anh đọng trên ngực mình. Cô vội vào phòng rửa mặt. Cô nhìn lên gương. Mặt cô hơi tái đi, môi son đã lợt; cô ôm lấy ngực, mắt nhắm lại. Cô thì thầm: '' Em yêu anh, Quỳnh ơi!'' Cô nuốt thật chậm ngụm nước bọt đã hoà với mật ngọt trên môi anh. Cùng lúc đó mẹ cô từ dưới bếp đi lên, bà thấy khuôn mặt sững sờ mà hưng phấn của con gái bà. Bà đã hiểu.
Những lần về phép sau này, anh lại nhà thăm nàng đều đặn. Những lần ấy nàng như một con chim nhỏ. Nàng tíu tít kể cho anh nghe đủ chuyện ở trường, ở nhà. Nàng đã sửa soạn đồ ăn, thức uống từ ngày hôm trước. Nàng hỏi anh đủ thứ về đời sống quân trường. Anh không trả lời nàng nhiều, nhưng anh thường nói: '' ở quân trường khá cực, nhưng lúc ra khỏi quân trường mới đáng ngại kià.'' Nàng thoáng thấy trong ánh mắt anh một chút tư lự, cái bậm môi nhẹ nhàng trước khi hai khoé môi thõng xuống. Nàng yêu lắm cặp môi của anh.
Anh là viên chuẩn úy duy nhất có chứng chỉ Hoá khi về trình diện trung đoàn. Trung đoàn trưởng là một sĩ quan xuất thân Võ Bị Ðà Lạt. Khi anh trình diện, ông ta đã ngờ rằng anh là một kẻ thất tình; nếu không, hẳn cũng phải là một gã bất bình thường. Anh còn có thể tiếp tục được hoãn dịch, vậy mà anh đã đâm đầu vào lính, mà lại là lính tác chiến thứ dữ. Anh cũng không màng nhờ đến sự can thiệp của ông chú là một ông tướng ở Bộ Tổng Tham Mưu. Trung đoàn của anh là khắc tinh của những đơn vị chính qui và điạ phương của địch. Hai bên, trong nhiều năm , đã tìm mọi cách lừa nhau, tiêu hao sinh lực của nhau trên một điạ bàn đầy những núi rừng trùng điệp. Họ tìm đủ cách xoá sổ lẫn nhau. Trong hai năm ở với đơn vị, anh đã ba lần nhận những tân binh bổ sung quân số, và không ít lần đứng lặng người trước những người đàn bà méo mó, xộc xệch, khóc giật từng cơn trước thi thể của chồng, con, cha, anh mình. Anh nhớ lại lời cha anh : '' chiến tranh chẳng phải là một trò đùa, và chiến trường chẳng phải là chỗ người ta dạo mát.'' Chiến trường quả đúng chẳng phải là chỗ dạo chơi, nhưng cuộc chiến mà anh tham dự, nó hệt như một trò đùa. Một trò đùa oan nghiệt. Những trận đánh tàn khốc giữa đơn vị anh và các đơn vị địch không cho phép cái đầu anh nghĩ xa hơn nữa. Trước mắt, phải sống còn; phải lì lợm và xoay trở nhanh hơn đối phương; phải dành được người dân sống quanh mình và người lính sống với mình. Về phương diện này, anh là sĩ quan xuất sắc của đơn vị. Trong trận đánh xảy ra cách đây hơn một tháng, tiểu đoàn anh đã thắng đậm trong một trận phản phục kích tuyệt vời. Anh đã chỉ huy đại đội đánh bạt gọng kềm trái mà địch đang khép lại và bọc trở lại đánh tan đơn vị địch đang xung phong vào bộ chỉ huy tiểu đoàn. Ðến lúc này thì trung đoàn trưởng ngạc nhiên là anh đã không chọn binh nghiệp ngay từ khi xong trung học. Anh là một cấp chỉ huy gan dạ, quyết đoán và có những quyết định hữu hiệu bất ngờ trong những tình thế tưởng chừng tuyệt vọng. Nhưng khi tàn trận, trực thăng đã tải đi thương binh và tử sĩ, anh đứng nhìn những hố bom đạn cày xới tan nát một khoảng bià rừng, những thân cây dập nát, gẫy đổ, và những mảnh áo quần lính trận cùng thịt xương bầm dập vắt vẻo trên những lùm cây, anh thấy đầu óc anh như đông cứng lại, và anh nghĩ đến Linh. Anh nghĩ đến số phận của những người vợ lính. Anh nhìn rừng già mờ mịt trước mặt, và những dãy núi xám xẫm lẫn trong hoàng hôn tím mà thấy ngậm ngùi. Linh đi nhờ xe của một sĩ quan trên Quân đoàn xuống hậu cứ của trung đoàn. Trung đoàn trưởng biết bố cô. Khi nghe tin đơn vị của Quỳnh bị phục kích, lòng cô như bị lửa đốt. Cô lo lắng, hoang mang. Cô tìm mọi cách nhờ người đưa cô lên đơn vị của anh. Tới hậu cứ cô đã thấy một vài phụ nữ, mặt mày hốc hác, ngồi đợi ở nhà khách trung đoàn. Ðó là một căn phòng vách ván nằm ở đầu hồi một dãy lán dài, nóc lợp tôn. Những lán nằm phiá sau là trại gia binh. Tường ván quét hắc ín đen xỉn. Chung quanh là vài lớp rào kẽm gai phòng thủ. Hậu cứ nằm ở ngoại biên thành phố. Một thành phố cao nguyên đất đỏ. Cô nhìn ra phiá xa, phiá thung lũng trước trại, và nhìn thấy những lớp bụi đỏ mù mịt đuổi cuốn theo nhau. Cô đang nói chuyện với một thiếu nữ, học sinh một trường trong vùng, là người yêu của anh chàng chuẩn úy dưới quyền anh thì từ xa chiếc xe Jeep ào vào. Anh từ xe jeep nhảy xuống, nón sắt có lưới ngụy trang dắt lá trên đầu, quần áo trận nhàu nát, đôi giầy trận bạc phếch, mũi giầy đầy bùn đất, và bên hông lủng lẳng khẩu colt. Nàng chạy bổ ra sân, ôm chầm lấy anh, trước cặp mắt thông cảm của những người phụ nữ còn lại. Ðêm đó, anh và cô ở trong căn phòng của một sĩ quan độc thân đang đi phép. Chiều xuống rất nhanh, một cơn mưa ập xuống như lũ rừng, và bóng tối dầy đặc bao quanh vòng đai phòng thủ của hậu cứ. Cô ôm cứng lấy anh như thể ngày mai không bao giờ cô còn được ngồi với anh như thế nữa. Cô hôn anh mạnh mẽ như chưa bao giờ được hôn. Những sợi râu lởm chởm cà vào má cô, vào môi cô, vừa nhột nhạt, vừa bồn chồn. Khi buông nhau ra, anh châm một điếu thuốc, và sau ngụm cà phê còn nóng mà cô mới pha hồi nãy, anh nhìn mông lung ra phiá lô cốt trước mặt. Chỉ còn một ngọn đèn leo lét rọi sáng cổng trại, được chặn phiá ngoài bằng bốn rào kẽm gai. Anh bỗng thấy xót xa cho đời lính, và anh bỗng thấy thương cảm cho người yêu. Anh thấy rõ cả nỗi bất lực của mình trong cuộc chiến dai dẳng và tàn khốc này. Anh bực dọc nghĩ đến lời khai của gã tù binh bị bắt tuần trước: hắn đã nằm lòng bài học phải trả lời khi bị bắt. Anh bắt đầu nhận ra lối nhồi sọ con người của đối phương, hệt như anh đã từng nhận ra những cách biệt quá đáng trong đời sống của nhiều tầng lớp dân chúng Miền Nam. Bất giác anh ôm ghì lấy nàng. Linh cũng ép người mình vào chàng. Nàng bấu chặt vai anh, nàng ghì tóc anh xuống, nàng nhìn thật sâu vào mắt anh trong bóng đêm, nàng thì thầm vào tai chàng:'' Em muốn cho mình,...''. Nàng luồn tay xuống ngực anh. Nàng thấy một vết sẹo phía trên ngực phải, dấu vết của một lần anh bị thương nửa năm về trước. Nàng mân mê, rồi ghé môi hôn lên vết sẹo ấy. Còn anh, trong một thoáng, anh bỗng thấy bần thần. Một nỗi ham muốn mơ hồ cùng với nỗi bất an thảng thốt qua nhanh trong đầu anh. Nếu anh có mệnh hệ nào?..!!! Từ ngày anh về đơn vị, đã bốn sĩ quan ra đi vĩnh viễn. Anh gỡ tay nàng ra, nhưng nàng dằng lại. Nàng dứt khoát:''Em cho mình mà,...''. Nàng ghì anh xuống, rồi chính anh ghì lấy nàng, hôn như mưa bấc trên khuôn mặt nàng bồng bềnh theo ánh sáng của ngọn đèn bão treo sát vách tường. Anh quấn chặt lấy cái thân hình mềm mại của nàng, đè nàng xuống, ngấu nghiến. Anh thấy hơi ấm của nàng truyền qua từ những phần thịt da nồng nàn. Còn nàng, nàng thấy như từng tế bào cuả thân xác nàng mọng căng lên, đón nhận những dòng chất lỏng sền sệt cuả nỗi đam mê bất ngờ, trong khi ngoài trời tối đen, gió lồng lộn rít qua kẽ tôn cuả lán trại. Anh nghe tiếng rên nho nhỏ của nàng, như hạnh phúc và đau khổ quyện vào nhau. Thỉnh thoảng tiếng đại bác bắn đi phiá đồi bên kia làm rung đến tận khu trại bên thung lũng này, và ngoài xa, hoả châu bập bùng toả sáng ngôi làng nằm dọc theo con suối chạy ven quốc lộ.
Trên trần chiếc Marelli cũ vẫn quay đều. Mắt bên phải cuả Quỳnh hé mở. Anh thấy một khuôn mặt nhạt nhoà, như loãng ra đằng sau một khuôn cửa kính đục đang bị nước mưa hắt vào. Rồi khuôn mặt ấy rõ dần. Anh nhìn ra Linh. Nàng đang cười. Nàng đi ngược chiều anh giữa đồi cỏ lộng gió. Rồi nàng giơ tay chạy nhanh về phiá anh, gần hơn, gần hơn nữa. Lúc anh giơ tay ôm choàng lấy người nàng thì anh không thấy nàng đâu nữa. Rồi anh lại thấy nàng đang đứng cách xa anh bằng khoảng cách một con đường. Nàng yên lặng buồn rầu nhìn anh. Mặt nàng như mặt Mẹ Maria đang ngước lên nhìn Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Anh nhoài người về phiá nàng, thì bỗng nhiên, anh bị một cơn lốc cuốn đi, ném anh xuống bià rừng. Anh thấy cả đại đội đang dàn hàng ngang vượt nhanh qua trảng cỏ trước mặt. Phi cơ gầm rú trên trời, và những trái bom nổ ngay phòng tuyến địch, chỉ cách đại đội anh vài chục thước. Lửa, khói, tiếng nổ của đủ loại súng, và tiếng lựu đạn át cả tiếng hô xung phong, lẫn tiếng kèn thúc quân của phiá địch. Tiếng người bị trúng đạn như bị thụi rất gọn vào ngực. Rồi anh nghe thấy tiếng kêu thất thanh của mẹ anh- người mẹ đã lâu lắm anh không hề gặp. Anh bỗng thấy mình bị một khoảng không gian tối đen hun hút lao vun vút về phiá mình. Anh chỉ kịp hụp vội người xuống đủ để thấy mình đang bám vào bờ đất của căn hầm trú ẩn. Rồi khuôn mặt của Linh lại hiện ra, tươi cười, rực rỡ. Nàng dơ tay kéo anh ra khỏi hầm.
Linh ngồi bên cạnh giường. Nước mắt lăn dài trên má. Cô thấy mắt anh mở hé ra, rồi lại nhắm nghiền lại. Anh ú ớ trong họng. Tay anh như muốn giơ lên, rồi lại hạ xuống. Cô nắm lấy tay anh , giữ nhẹ bên mép giường. Mạch vẫn còn đập. Rồi bỗng cô thấy một giọt nước mắt ứa ra bên khoé mắt cuả anh. Môi anh mấp máy. Hình như anh đang gọi ...Linh ơi!!! Sầu Đông  | Vu Quy | Feb 9, '09 1:24 AM for everyone |
Mẹ vào phòng, hôn nhẹ lên trán tôi, tắt tất cả những bóng đèn tôi đã cố tình bật lên vài phút trước. Ngủđi con, ngày mai còn có sức.Lời mẹ dịu dàng, nhưng tôi nghe váng vất nỗi xót xa. Xót xa sẽ gảđi, cho đi đứa con gái yêu quý được nặn ra từ bể sâu đau đớn và quặn thắt thương yêu vào tay một kẻ xa lạ, không chung máu mủ ruột rà. Ngày mai tôi lấy chồng. Đây là đêm cuối cùng tôi ngủ trên chiếc giường con gái. Tôi muốn nhìn lần cuối căn phòng đã che giấu cho tôi suốt quãng đời thiếu nữ, che giấu những nẩy nở thân xác và che giấu cả những giọt nước mắt hạnh phúc con người. Nhưng mẹ không muốn tôi thức, mẹ tắt đèn, mẹ cũng không ngủ cạnh tôi đêm nay dù cho tôi nài nỉ. Mẹ biết con là một cô gái mạnh mẽ. Con nên ngủ một mình. Hình như sau lần áo tím của mẹ, trong xương thịt không kịp che giấu, vài giọt nước mắt rơi chảy. Mẹđã mong chờ ngày này bao nhiêu lâu, thế mà mẹ lại khóc.
Ngoài phòng khách, đồng hồ treo tường điểm 12 giờ khuya. Một ngày mới. Đêm tối dăng dài bên ngoài cửa. Sau bóng tối khởi đầu cho ngày mới kia, ngày mai, ngày sau, cuộc sống tôi sẽ hồng tươi hay xám lạnh? Tôi không biết, mẹ không biết, chỉ có bóng đêm lờ mờ nhận ra hư ảo. Và bóng đêm đang thở êm như làn lụa mỏng. Hàng mi dài từ từđan với nhau. Hình như tôi ngủ. Mà hình như tôi còn thức.
Người đàn ông đứng tuổi, làn da sạm nắng, miệng ngậm tẩu nhìn như nuốt chiếc váy màu trắng đang toả nắng chiều trên người tôi. Ông dừng lại trên chiếc nón rộng vành bị tuột dây trể nãi lơi lả xuống bầu ngực vừa mở mắt. Nụ cười văng ra khỏi khoé miệng dầy.
- Cô gái, cô có biết mình đáng yêu không?
- Ông là ai? Tôi chưa nhìn thấy ông đến làng bao giờ.
Người đàn ông đưa tay mơn nhẹ bông hoa trắng tôi cài trên tóc. Nụ cười toả ra từ cả khuôn mặt.
- Cô gái, cô lại còn thông minh nữa. Thế cô là ai?
- Tôi là thiên thần !
Đôi chân trần của tôi bay lên theo ánh mắt và khoé môi toan tính. Làn da người đàn ông đỏ rực trong những tia nắng cuối cùng dâng trên cát.
- Còn tôi là nhà văn. Nhà văn sẽ biến thiên thần thành người đàn bà.
Ông làm điều ông nói bằng cách tôi chưa biết bao giờ. Ông đào xới vực thẳm vô hình trong tâm hồn cô bé tròn 16 tuổi, mỗi hoàng hôn, trước biển, trên tảng đá tôi vẫn thường ngồi suy tư như một người đàn bà. Căn phòng khách sạn ông ở trông ra cồn cát, mỗi buổi trưa mồ hôi ông quện ướt má môi tôi tựa mật ngọt. Bồng bềnh mê man tròng trành giữa cõi nồng nàn thân xác cùng ông, chiếc nón trắng rộng vành treo hờ bậu cửa đung đưa cầu vồng. Chỉ khi phịch xuống cõi trần tục, tôi mới biết đấy chỉ là giải lụa đã ngả mầu vì hơi mặn biển cả bao buổi chiều lang thang của tôi, cô gái làng chài ưa khám phá. Sóng bạc đầu xuất hiện ngày ông ra đi. Chồm lên liếm gót chân trần hồng líu ríu khóc thầm của tôi. Giữa triền cát sáng mai ẩm ướt, ông quỳ xuống mang vào chân tôi đôi săng đan trắng. Đuôi mắt ông hình như hằn thêm nhiều nếp.
- Anh sẽ không còn quay lại?
- Mỗi người đàn ông là một nhà văn. Anh ta sẽđến, và sẽ khám phá ra em như anh từng khám phá.
Giọng nói của ông như vọng ra từ triệu ngọn sóng. Dáng ông khuất dần trong ánh nắng đầu tiên của một ngày mới. Tôi chạy, tôi bay trên nền cát ẩm dịu dàng bằng đôi săng đan ông tặng. Chạy mãi, bay mãi theo những ngọn sóng bạc đầu đón bắt bình minh. Chân trời mải miết bơi trước tôi, chìm trong biển lớn. Giã từ người đàn ông biến tôi thành trần tục, tôi dang tay đón chào cuộc sống. Mặt biển bừng lên. Chuông đồng hồ kéo tôi khỏi bao la, giạt về phía triền cát. Ba tiếng chuông ngân. Làng chài, người đàn ông đứng tuổi, cô gái ngây thơđội chiếc nón rộng vành bay mất. Chăn rơi khỏi người tự lúc nào, thân thể tôi lạnh. Giấc mơ êm ái kỳ lạ. Nó muốn nói điều gì với tôi, về tôi? Mà tôi đang ởđâu, tôi đã trở về nhà hay còn trên triền cát? Tôi gượng mình ngồi dậy. Trong hưảo ánh trăng mùa đông muộn màng, màu hồng của chiếc thiệp cưới vướng cuối giường tựa chiếc quần lót mà người đàn ông đã dùng miệng cởi khỏi người tôi trong giấc mơ ban nãy. Tôi cúi xuống kiếm tìm, đôi săng đan màu trắng sáng lên dưới chân giườøng. Ngày mai tôi sẽ mang đôi săng đan ấy dưới chiếc váy cưới về nhà chồng. Không phải ngày mai, chính là ngày hôm nay. Đã ba giờ sáng. Tôi còn bao nhiêu giờ cho cuộc đời con gái? Mà cuộc đời con gái của tôi bắt đầu từ bao giờ? Phải chăng từ gương mặt buồn nhưng sáng bừng lên nỗi đam mê trong đôi mắt ấy. Đôi mắt ăn cắp 15 năm tuổi thơ tôi và dâng hiến đến tôi nhiều cuộc đời khác.
Tôi gọi anh là anh. Tên anh lặn sâu vào mạch huyết không cần nói thành lời. Ngôi nhà lặng lẽ khuất sau vườn cây như oà vỡ, nứt những tiếng cười và âm thanh hạnh phúc mỗi ngày chủ nhật. Lần đầu tiên, khi anh gượng nhẹ, rón rén giắt tay tôi bước vào ngôi nhà, tim tôi tắt từng mạch máu. Tôi nhìn thấy thiên đường và thấy cảđịa ngục trong ngôi nhà lẳng lặng. Cách bài trí ngôi nhà theo lối cổ xưa với những bức tranh Đông Hồ bằng giấy gió làm không gian ù mề, lười biếng như ánh mắt của anh khi tôi nói về tương lai và những mơước của mình. Bàn ghế lẳng lặng, đến cả con chó có bộ lông mượt như lụa cũng lẳng lặng. Anh nói từ ngày ly hôn, anh chưa đưa người phụ nữ nào về nhà. Có lẽ vì thế, con chó của anh không còn biết hơi người. Hình như nó nghĩ tôi là một loài động vật. Sau này, nhiều chủ nhật trôi qua giữa ngôi nhà đã trở thành thiên đường, tôi cảm thấy con chó có bộ lông màu xám mượt mà vẫn không xem tôi là một người bạn. Đôi mắt rười rượi luôn mở lớn của nó mang ngàn lời trách cứ lẫn thương hại. Nhất là buổi chiều ấy, buổi chiều tôi cắt đứt tuổi thơ vội vàng bằng anh. Cắt đứt bằng lưỡi, bằng môi, bằng mắt, bằng tất cả sức mạnh và nhịp đập rối loạn say mê. Căn phòng ngủ ngăn nắp của anh lộn tung những mê cuồng. Mê cuồng chứng giám nỗi mất mát và bắt đầu sự hồi sinh. Hồi sinh một người đàn bà thực thụ. Người đàn bà 16 tuổi. 16 năm tuổi thơ, anh cắt trọn trong một cú thọc sâu. Và kết thúc bằng vũng máu đỏ dấy lên như báo hiệu một cuộc đời giông bão. Sau đấy là im lặng hoàn toàn. Chỉ khi chú chó lông xám của anh nhảy phắt lên giường hít ngửi vết máu loang rộng trên nền ra trắng và hú lên một tiếng khó hiểu, tôi hồi tỉnh và lơ mơ biết mình đang ởđâu. Tôi ngửi thấy da thịt anh, da thịt người đàn ông đượm rát mùi phù sa sông Hồng. Thứ mùi mà mỗi lần nước rút, cùng lũ bạn chạy xuyên qua bãi ngô đồng, tôi vẫn thấy nó dậy nực cánh mũi. Cánh tay anh choàng qua tôi nặng trịch, lười biếng.
- Em khát nước.
Giọng tôi căng tràn, khô, bỏng. Tôi những tưởng anh sẽ chạy đi mang ngay nước đến cho tôi. Nhưng không.
Tự nhiên nước mắt chảy ướt đầm môi má tôi. Tôi nghĩ mình ảo tưởng bởi những cuốn tiểu thuyết. Thực tếđàn ông không ai hầu hạđàn bà, chỉ có đàn bà phải chiều chuộng đàn ông. Tôi vừa mới trở thành đàn bà, tôi phải xứng đáng với điều đó, với người đàn ông đã xoáy mình vào trong tôi cắt đứt tuổi thơ ảo ảnh. Vài giọt nước mắt vụng về rơi trên tay anh, anh tưởng tôi tiếc.
- Em không nuối tiếc chứ?
Giọng anh trầm ấm.
- Không, em hạnh phúc.
Tôi nghe trong giọng nói của mình nhanh những đam mê dồn dập. Báo hiệu nhiều cơn lốc xoáy nay mai. Sau này, hình ảnh con chó xám và tiếng hú của nó ngày tôi thành đàn bà luôn đến sau mỗi cuộc ân ái. Dù không còn là với anh, mà với những người đàn ông khác. Lúc mẹ giắt tay tôi len lén từng bước ngắn vào bệnh viện phụ sản một ngày không có gió, hình ảnh chú chó có bộ lông xám mượt đung đưa phía trước. Nó vừa muốn chỉđường cho tôi đi vào chỗ làm tôi trở lại trong sạch trước mắt mọi người lại vừa u uất nhìn tôi van xin đừng bỏđi mầm phôi của anh, mầm phôi chúng tôi đã tạo ra sau 3 tháng yêu thương. Nó không nghe cuộc đối thoại đã diễn ra trước đó, trước bàn thờ uy nghiêm khói lượn vòng, bố tôi vừa thắp nhang lên, trong ngày không có gió.
- Bố mẹ tha thứ cho con tất cả những lầm lỡ con đã dại dột mắc phải. Nhưng con phải phá bỏ cái thai trong bụng vào ngày hôm nay.
- Con không lầm lỡ. Con yêu anh ấy thực lòng, con phải giữđứa con của mình.
Khuôn mặt bố chuyển sang xanh xám, mắt mẹ bắt đầu nặng trĩu mây mù.
- Điều này quyết định cả tương lai của con. Nếu con giữ cái thai này lại, xem như cuộc đời con đã chấm dứt, con không biết ư?
- Cái bào thai này mới chính là cuộc đời con. Vì con yêu anh ấy.
Mây mù dầy đặc đôi mắt to của mẹ, không còn một chút ánh sáng nào.
- Nếu con không nghe lời, mẹ sẽ tự vẫn.
Mây chuyển thành nhiều giọt mưa rớt trên khuôn mặt đau đớn của mẹ, rớt dài theo tiếng thở của bố và cuối cùng rớt tan trong nỗi tuyệt vọng đường cùng của tôi. Chú chó lông xám mượt không tưởng tượng được chuyện của con người. Vẫn không một chút gió nào khi người ta cời mầm phôi của anh khỏi bụng tôi. Này đây là môi bỏng, này đây là lưỡi nóng, này đây là đùi thon, này đây là bộ lông xám mượt chạy lăng xăng quanh giường rên những điều vô nghĩa lúc anh rót mình hoà vào tôi. Tất cả, tất cả từ từ ra đi theo bàn tay bà bác sĩ có bộ mặt dài quá cỡ. Tôi đâu ngờ vào đúng giây phút tôi đang hoảng dại vì mất mát ấy, anh đã kịp cài mầm phôi mới vào một người con gái khác. Sau này, anh thanh minh rằng anh biết gia đình tôi không đồng ý cho tôi lấy anh, một người đàn ông đã ly hôn, anh chán, anh buông thả. Tất cả những người đàn ông trên thế gian này khi chán đều buông thả, đều cài mầm phôi vào bụng một người đàn bà vô tội vạ thếư? Tôi hỏi sao anh không làm mọi cách để dành lấy tôi, giữ lấy đứa con nếu thực lòng yêu tôi thay vì lột váy một cô gái khác để khoả lấp? Anh cúi mặt, tôi nhìn thấy chiếc cằm trễ nải của anh rung nhẹ. Mùi phù sa sông Hồng trên cơ thể anh trở nên nồng quá mức, sắp sửa trương thối. Sau này, mỗi lần nghĩ về anh, tôi lại ngửi được mùi phù sa châu thổ sông Hồng. Và tự nhủ, nếu tôi sinh con, rồi kết hôn với anh ngày ấy, sống trong ngôi nhà trang trí tranh Đông Hồđầy bụi bám, ngửi hít mùi phù sa sông Hồng ngày này qua ngày khác, không hiểu cuộc đời tôi sẽ ra sao. Sẽ bình lặng như bãi phù sa ven sông, mặc cho nước dâng nổi làm mất đi hay bồi thêm, âm thầm chịu đựng trong khi rất có thể chồng mình lại đi gieo mầm trên một mảnh đất khác? Đàn ông như anh, như phần đông đàn ông Việt Nam không biết đánh vần từ Chung Thủy trôi chảy. Đôi mắt trách cứ của chú chó bộ lông xám mượt lơ lửng trên cao. Hình như nó nhắn nhủ tôi rằng bào thai người ta vừa gắp ra sẽđầu thai vào nó. Có lẽ vì thế, suốt đời tôi chẳng còn bao giờđược gặp nó, như một sự trừng phạt. Và anh, mối tình đầu vĩnh viễn ra khỏi tôi vào một ngày không gió. Hình như là vĩnh viễn, dù sau này, có trở lại nhưng là chứng nhân của tội ác. Chỉ có mây mù trong mắt mẹ, mùa đông trên khuôn mặt cha, nỗi trách cứ của tia nhìn chú chó, và sự hoán đổi u sầu lấy hồn nhiên trong tôi. Tôi là ai thế nhỉ? Không tiếng trả lời. Giọng tôi vọng ra từ tôi và vọng vào chính tôi. Tiếng bính boong 5 lần của chiếc đồng hồ ngoài phòng khách len qua lớp kính dầy và khuôn mặt không còn mây mù của mẹ tôi hiện ra cùng nụ cười. Giống như nụ cười.
- Con ngủ ngon không, con gái?
Mẹđã tự mình trả lời trong âm điệu run rẩy của câu hỏi và khoé miệng mêu mếu. Mẹ nghĩ tôi không ngủ. Tôi chẳng biết tôi đã ngủ hay chưa. Hình như là ngày có gió. Gió tràn qua khung cửa sổ dịu dàng, mơn trớn. Gió của ngày tôi sẽ là người đàn bà trưởng thành.
- Đến giờ rồi con yêu. Con phải dậy sửa soạn.
Tôi co hai chân lên ngang ngực, che giấu đôi mắt hoe đỏ.
- Đang sớm mà mẹ, mới 5 giờ. Cho con ngủ thêm chút nữa đi. Sau này mẹ có muốn, con cũng không ngủ trên chiếc giường này nữa đâu.
- Lấy chồng rồi không được dậy muộn nhưở nhà mình đâu con. Phải tập dậy sớm con à. Nhà người ta lại là nhà gia giáo, nền nếp.
Tôi kéo chăn che kín mặt, tôi không muốn nghe mẹ nhắc đến gia đình chồng vào lúc này, những giờ phút cuối cùng còn có thể tận hưởng tự do. Mà tại sao mẹ lại có vẻ sợ sệt nhà người ta như vậy? Tôi đâu phải là cô gái kém cỏi gì, tôi là niềm mơước của vô khối đàn ông trên thế gian này.
- Vẫn chỉ là đứa bé gái nhõng nhẽo, hay khóc nhè và ngang bướng.
Tiếng mẹ nhỏ dần trong bước chân nặng chịch lo lắng. Bước chân mẹ lúc này như âm thanh khó nhọc mẹ rặn sinh tôi năm xưa. Mẹ nói tôi hay khóc nhè? Không, không còn là khóc nhè nữa. Tôi đã khóc giọt nước mắt của nỗi bất hạnh đầu đời trong vòng tay mẹở bệnh viện phụ sản, nơi người ta gắp đi sự sống của anh, máu huyết của tôi. Sau này, tôi còn khóc không biết bao nhiêu lần. Âm thầm cả những ngày gió và những ngày không gió, với những nỗi buồn triền miên. Nỗi buồn đàn bà. Khóc không cho mẹ biết, một mình trong bóng đêm, sau từng người đàn ông bội bạc hay bị tôi bội bạc. Không ai nghĩ một cô gái uỷ mị như tôi có đủ can đảm bội bạc đàn ông. Nhưng tôi đã từng làm điều ấy. Nếu mẹ biết, chắc hẳn mẹ không còn xem tôi là con nít. Ngày ấy, ai cũng nghĩ tôi bị ông đuổi khỏi ngôi biệt thự bên bờ biển. Mẹ mở rộng cửa đón tôi và chiếc va li lầm lạc sau 4 tháng trời. Nước mắt tôi ướt đầm bậc cửa, nơi tôi đã cất tiếng khóc chào đời. Tôi là đứa trẻ háu sống. Tôi đã được sinh ra ngay trên bậc thềm một ngày tháng hai giá lạnh. Để rồi, sau này, tôi làm mẹđau đớn trong tim với nhiều cơn choáng ngất. Như buổi trưa ấy, mẹđã ôm choàng lấy tôi và nức nở.
- Nó đuổi con ra khỏi nhà ư? Con gái, đừng khóc, đừng khóc nữa. Mẹđây, con trở về nhà là mẹ mừng rồi.
Cuống quýt như con gái mẹ không hề lầm lạc. Cuống quýt như con gái mẹđi xa trở về. Mẹ không biết tôi tự rời bỏ ông, người mà có lúc tôi xem còn quý giá hơn cả gia đình, hơn cả bậc thềm nơi tôi sinh ra. Nếu mẹ biết tôi đã xếp va li và ra khỏi biệt thự của ông nhanh đến mức nào, chắc mẹ sẽ không gọi tôi là cô bé yếu đuối. Trước khi rời cửa, tôi còn kịp đổ hất hộp màu đen lên tấm ra giường, thứ màu ông không ưa, như một lời từ biệt. Bước chân tôi là bước của buổi trưa hè nắng lửa. Để rồi một thời gian sau, bằng bước của một ngày chớm đông rụt rè, hối lỗi, tôi đã trở lại ngôi biệt thựấy và được ông đón tiếp ân cần nhưng lịch sự với những điều kiện như một vụ buôn nha phiến. Ông là người Tàu, ông có dáng dấp và đôi mắt, ánh nhìn của một người đàn ông Tàu ở bất cứ nơi đâu trên thế giới. Bí ẩn, khôn ngoan và đầy ma lực với các cô gái. Ông lại là thương nhân giàu có. Cốt cách của ông toả ra quyền uy làm người khác phải phục tùng. Một thiếu nữ lãng mạn, ưa khám phá, phiêu lưu như tôi dễ dàng bị ông đánh gục. Tôi ngã ngựa trong chính tâm hồn mình trước ánh mắt, nụ cười của ông. Tôi đầu hàng thể xác mình sau mỗi cuộc ân ái cùng ông.
- Em thích cách tôi vừa yêu em chứ? Tôi thấy em co giật từng cơn và xiết tôi mạnh. Cườm tay tôi rả xuống trước đôi mắt ngấn lệ của chàng. Tôi thương chàng nhất trong những người đàn ông tôi đã từng yêu thương.Tôi hiểu chàng không còn bị lạc nữa mà mất, không thể còn tìm thấy. Làm sao tìm được xác ba và chịđã rơi giữa biển khơi làm mồi cho cá? Làm sao tìm được dáng mẹ còng lưng ngồi đợi con bên khung cửa với đôi mắt mờ vì nước mắt chia ly và chờđợi? Biển Thái Bình Dương trong xanh, diễm lệ nhưng cũng đầy gian ác. Ngày ra đi, chàng chìm nổi lênh đênh trên những con sóng với triền miên nôn mửa và sợ hãi. Ngày trở về, chàng bay qua mênh mang nước và trùng điệp núi. Nhưng quê hương của chàng chỉ còn lại một nắm đất ở nghĩa trang Gò Dầu, nắm xương mẹ cong hình chờ đợi. Tôi làm sao lại không thương yêu chàng cho được. Chàng thường rúc vào bầu ngực tôi ngủ ngon như trẻ thơ. Giữa hai bầu vú căng hồng của người đàn bà chàng yêu, không còn mất mát, không còn đau khổ. Chàng mang dáng hình chữ S cuộn khoanh trong lòng tôi. Nhưng lắm khi, chàng khiến tôi bực mình. Chàng đã mất tất cả, mất luôn cả gốc. Tôi phải cầm tay dẫn chàng khi sang đường, tôi phải giải thích cho chàng bao nhiêu là từ mà chàng không hiểu. Chàng không lấy làm xấu hổ về chuyện ấy.
- Anh đi xa bao nhiêu năm nay rồi, làm sao anh biết được.
Chàng luôn chống chế vụng về.
- Xa bao nhiêu năm cũng không thể quên nếu người ta luôn tâm niệm phải nhớ. Đã quên hết rồi, anh còn trở lại đây làm gì để thấy mình lạc lõng?
Hai bầu má phính sữa của chàng dường như xanh tái. Chàng cười, điệu cười chắt ra từ 25 năm làm người nơi xứ lạ.
- Vềđể tìm lại tuổi thơ, để làm lại những cái đã mất. Anh tin anh làm được vì xứ này vẫn còn nhiều người như em.
Tôi thở dài nhìn chàng. Chàng quả thật ngây thơ. Chẳng thể nào chàng tìm lại được những thứđã mất bằng sự cả tin và ngây thơ như vậy. Bao nhiêu cạm bẫy, bao nhiêu chông mìn, bao nhiêu kẽm gai dựng nên những thù hằn ngăn cách còn nằm sâu, nắm giữ mảnh đất mẹ của chàng. Có cực nhọc làm ra bao nhiêu tiền để mang về, bức tường đó vẫn không phá bỏđược, lòng lại dầy thêm thương tích. Tôi không muốn chàng mất mát thêm, không muốn chàng đau khổ thêm nhưng rồi cuối cùng vẫn làm chàng thất vọng ra đi. Ra đi và thề không bao giờ quay trở lại. Xem như quê hương đã vĩnh viễn tuột mất. Tôi không thể bỏ tất cả để theo chàng. Gia đình, bạn bè, những hàng cây khẳng khiu chờ mùa về thay lá. Bố tôi gầm lên:
- Quân bán nước. Tao còn sống thì mày đừng hòng.
Tôi hiểu. Tôi phải ở lại để làm mùa xuân. Dù cho lâu lắm mùa xuân mới về trên mảnh đất này. Lâu lắm hoa đào lại mới nở. Em trai tôi buồn phiền.
- Chịđi rồi sau này mang em đi luôn có phải hay không. Đất này báu bở gì mà phải nuối tiếc.
Tôi đứt ruột ngày chàng ra đi. Khi chia tay mối tình đầu trong bệnh viện phụ sản, tôi đau dao cắt, kéo đâm nhưng vết thương mau lành. Lúc quyết định không quỳ gối để người đàn ông Tàu cho uống nước sâm nữa, tôi khát cháy da thịt rồi cố lết đi tìm vũng nước. Ngày chia tay chàng, tôi bị chặt một phần thân thể. Đau thốn từng mạch máu. Đôi mắt tôi xám như màu núi buổi chiều tà không dám nguớc nhìn làn da chàng nhợt tái. Chàng muốn lần cuối cùng được ôm tôi trong vòng tay trên cao, có núi, có rừng, không phải là biển, nơi ngày xưa chàng chia tay số mệnh và mất mát cả một quê hương.
- Mẹ Âu Cơ chia tay với Lạc Long Quân cũng là trên rừng phải không em? Chúng mình giống họ, nhưng chẳng có một trăm đứa con.
Tôi chết lặng trong căn nhà sàn. Tôi đu lên chàng. Tôi muốn nói tôi sẵn sàng sinh cho chàng một vạn đứa con, nặn lại cho chàng quê hương, chuộc lại cho chàng tuổi thơ sung suớng nếu tôi là Thượng đế, nếu có Thượng đế. Chàng yêu tôi dịu dàng và vô cùng xúc động. Hai bầu ngực tôi nở ra như muốn ôm trọn khuôn mặt thơ ngây của chàng hòng che chở. Gió hoàng hôn xuyên qua cánh rừng cằn khô u u tắc nghẹn trên mỏm núi cũng không run rẩy bằng tiếng thở của chàng. Và lúc chàng rút khỏi mình tôi, cơn gió bỗng chợt tràn qua mỏm múi hất tấp căn nhà sàn, cứa rời thân thể tôi. Tôi biết đã vĩnh viễn mất đi một phần thân thể.
- Sau này em sẽ lấy ai?
Gió vẫn không ngừng quay lộn. Như bộ óc tôi vật vã. Như trái tim tôi ứ huyết.
- Lấy anh. Chim phải bay về rừng, cá phải bơi về biển.
Tiếng tôi nói hay tiếng của ước mong? Chàng xoay tôi lại, bắt tôi nhìn thẳng vào đôi mắt chàng đang nhoè nước.
- Em biến hoá nhưảo thuật. Soi mình trong gương em sẽ không thấy được mình. Nhưng soi trong mắt anh em sẽ gặp chính em.
- Anh bảo em là ma cà rồng?
- Ma cà rồng hút máu kẻ dại khờ vì yêu như anh.
Mãi mãi, chàng trôi trên con sóng bạc đầu mất hút bên kia Thái Bình Dương. Chàng mang luôn một phần thân thể tôi trong hành trang và đánh rơi vạ vật đâu đó trên xa lộ mỗi ngày chàng đến sở. Nếu lấy chàng ngày ấy, tôi sẽ ra sao bây giờ? Bươn bả, vật lộn kiếm từng đồng tiền và đêm đêm ngồi nhìn qua biển nhớ về những gốc sấu già, mong chờ mùa xuân? Biết đâu như thế mùa xuân lại đến nhanh hơn, thân thể tôi nối liền được phần rời đứt? Hơn là ân hận, nuối tiếc, ám ảnh triền miên mà mùa xuân vẫn đâu đâu. Mà chỉ còn mấy bữa nữa là lập xuân, hoa đào đã nở hồng trên Nhật Tân, sao tôi cứ mong chờ một mùa xuân hão huyền nào đó trong tâm trí. Hôm nay cũng là mùa xuân, người ta nói ngày vui nhất của một đời người, sao tôi cứ ngồi suy nghĩ miên man về những mối tình đã chết, không bao giờ còn có thể quay lại? Chiếc đồng hồ lại bính boong làm công việc đếm thời gian. Thời gian có đồng hồđo được nhưng nỗi buồn vui, hạnh phúc con người lấy gì đểđo? Chị tôi lộng lẫy áo choàng lông thú mua bằng vốn tư bản của chồng tôi, mẹ tôi trầm lặng trong bộ áo dài, bác tôi nhai trầu đỏ tươi đôi môi, em tôi lắc lư theo điệu nhạc bằng lòng vì cuối cùng chị nó cũng kết hôn với một ngoại kiều. Ai đo nổi sự giằng xé nát tan trái tim tôi? Bố tôi đã thắp nến lên bàn thờ. Ông bà nội trên tấm hình nhìn tôi không biểu lộ cảm xúc. Bố mẹ muốn tôi lấy người đàn ông có vốn tư bản để bảo đảm cuộc sống, nếu ông bà còn sống chắc sẽ muốn tôi lấy quan tuần phủ hay chánh tổng, lý trưởng để vuốt ve quyền lực? Người ta bắt đầu choàng chiếc váy cưới lên người tôi. Màu trắng tinh giả dối. Tôi muốn chiếc áo màu ngà nhưng chồng tôi và gia đình không ưng thuận. Nếu vì màu sắc mà làm cho cuộc hôn nhân hạnh phúc chứ không phải tình yêu, thế giới này làm gì còn đau khổ. Khi người ta bắt đầu vấn tóc cho tôi, tiếng cười nói đã râm ran khắp trong nhà ngoài sân. Chữ Hỷ ai cắt mà đẹp thế? Cưới hôm nay vừa đẹp ngày lại vừa đẹp trời, ông bà thật tốt phước! Nhà trai sắp đến rồi, chuẩn bị nước đi là vừa. Mấy đứa đã chuẩn bị áo dài đồng màu để nhận sính lễ chưa? Tôi lẫn lộn giọng người này với người kia. Qua khung cửa, sương mù dần tan hết, chỉ còn vài gợn loay hoay trong vườn. Nắng đông lên sớm hơn thường. Mẹđi vào lẩm nhẩm ngắm nhìn tôi. Tôi trông mẹ không vui. Có phải vì mẹ sắp mất con gái? Nhưng tôi đâu có rời xa mảnh đất này dù lấy ngoại kiều. Chồng tôi đã hứa sẽđịnh cưởđây vĩnh viễn. Cớ gì mẹ phải buồn.
- Cô dâu xong chưa? Nhà trai vừa gọi điện thoại, đã khởi hành rồi đấy. Họ nhắn cô dâu: Cửa sắp mở, hãy xông vào giành chiến thắng.
Suýt nữa thì người làm tóc xiên chiếc trâm cài phải tay tôi. Chồng tôi, anh ấy lại vừa nhắn lời khó hiểu. Quen rồi nên cũng chẳng cần bận tâm. Bác tôi xuýt xoa:
- Cháu vấn kiểu đầu này hợp lắm, đã xinh rồi lại càng xinh hơn.
- Em cháu đẹp chứ không xinh.
Chị tôi đính chính. Tôi mở mắt liếc vào gương. Trời ơi, người ta làm gì mái đầu của tôi thế? Như vậy mà hợp ư? Gương mặt nhiều góc cạnh của tôi không thểđẹp nếu vấn tóc kiểu cổđiển. Phải làm những lọn sóng xoăn xoã dài tự nhiên và kết hoa vàng thành vòng như một chiếc vương miện. Chàng cũng từng nói thế ngày chưa rời xa mang đi một phần thân thể tôi, ngày còn ao ước vềđám cưới và đàn con. "Em không giống phụ nữ Việt Nam truyền thống, em mang nhiều nét đẹp cởi mở phóng khoáng. Sau này, khi đám cưới, anh sẽ tự tay kết cho em một vòng hoa màu vàng đểđội lên mái tóc bồng bềnh của em, em sẽ giống một bà hoàng." Bây giờ, người ta vấn ngược những lọn tóc tôi lên, gương mặt chàng yêu thích chìm tối trong vẻ cổđiển. Có phải bao giờ dáng vẻ cổđiển cũng là truyền thống, cũng là dân tộc? Mà không được kết hôn với người tôi yêu, cổđiển hay hiện đại, vấn tóc hay thả buông cũng vậy mà thôi. Tôi nhắm mắt. Người ta xỏ giầy vào chân tôi. Tôi bật dậy. Vấn tóc cổđiển, váy cưới màu trắng tinh, người chồng ngoại kiều có vốn, nhưng còn đôi chân, hãy cho tôi được xỏ trong thứ mà tôi mong muốn. Đôi săng đan màu trắng vẫn lung linh nhìn tôi cười dưới chân giường. Giấc mơ của tôi, hy vọng cứu rỗi. Tôi ôm đôi săng đan vào lòng như một vật báu và từ từ dịu dàng xỏ từng ngón hồng. Vừa vặn, mềm mại, xinh xắn. Tôi còn có giấc mơ, có hy vọng vào hạnh phúc.
- Nhà trai đến đầu ngõ rồi. Cô dâu không được ra khỏi buồng. Người nhận sính lễđâu?
Tai tôi ù. Mắt tôi hoa. Chân tôi khuỵu. Cuối cùng đã đến giờ phút trọng đại nhất của một đời người. Đã từng tự nhủ không lấy được người mình yêu, dám cưới chỉ là một nghĩa vụ, nhưng sao bây giờ tôi cũng run rẩy, ngượng ngùng như bất kỳ một cô dâu nào trên đời. Tôi ngóng qua khe cửa tìm gió, tôi mong ngày có gió. Sương mù đã bay hết, nắng đã nhen, sao gió không về? Đôi săng đan trắng chật hơn dưới chân tôi tụ máu. Tựa như nó không mang nổi bao nhiêu xúc cảm, bao nhiêu hoang mang, bao nhiêu hồi tưởng trong tôi. Ngày tôi phải tham dự phiên toà xét xử anh, tôi cũng không hoang mang như giờ phút này. Trớ trêu, mười năm sau, tôi gặp lại anh, người đàn ông đầu đời, người đàn ông có chú chó xám, người đàn ông bỏ tôi nhoài nhã với kẹp panh cùng bác sĩđang gắp đi đứa con đầu tiên để ngồi thưởng trà với cô gái khác. Anh mập, dáng vẻ thành đạt hơn. Cố ý, anh cho tôi thấy anh chạy chiếc Camry đời mới bóng nhẫy.
- Em hay nói anh lười biếng. Lười biếng làm sao có xe mà đi?
- Xã hội này chuyện gì cũng có hể xảy ra. Giết người lại được phong anh hùng, lười biếng vẫn nhiều tiền, có gì lạ.
Miệng lên gân, trong lòng tôi vẫn thấy anh hấp dẫn như chục năm trước. Tôi nhớ chú chó màu xám và ngôi nhà ấm áp.
- Gặp lại em là niềm vui lớn nhất của anh.
Anh không biết rằng chỉ vài chục phút sau câu nói ấy, tai hoạ đã ập xuống. Lần tái ngộ với người xưa trở thành nguyên nhân đưa anh vào chốn tội tù. Mãi nhìn tôi, anh đã gây tai nạn chết người khi chúng tôi từ chỗăn tối trở về. Không thể nào chối bỏ, tôi trở thành người làm chứng trước toà. Hoang mang, giằng xé, suy sụp. Anh quỳ mọp sau chấn song:
- Em bảo giết người vẫn được phong anh hùng. Em hãy cứu anh đi, em hãy khai man đi. Anh không cần anh hùng, anh chỉ muốn ra khỏi đây.
- Hèn!
Trước toà, tôi mang khuôn mặt lạnh giá nhưng trong lòng vụn vỡ. Người đàn ông mê tranh Đông Hồ, người đàn ông mang hương vị phù sa sông Hồng, người đàn ông thưởng trà mỗi sáng đã chết. Thực sự chết. Tôi tự hỏi nếu khi ấy đã là vợ anh, tôi có bao che cho anh không? Tôi không trả lời được. Trái tim cứng lưỡi trong hỗn mang thất vọng.
Một làn gió bỗng thốc qua khung cửa mang theo hơi lạnh. Tôi rùng mình. Đồng hồđiểm mười một tiếng gọn lảnh. Giờđã điểm. Giờ của tôi đã điểm thực sự. Ôm ngực, tôi trông không gian vần vũ trong vô thức. Rồi ai đó quàng cánh tay tôi, ai đó kéo tôi đi. Mùi hương, tiếng cười nói lào xào. Ai đó bảo tôi quỳ lạy. Màu đỏ tràn ngập. Những mâm sính lễ, chiếc áo ghì tôi, màu son chị tôi quay cuồng. Ai đó cho tôi uống nước. Ai đó nhắc tôi cười tươi để chụp hình. Cười, phải cười, phải vui, phải hạnh phúc. Một cuộc sống mới. Sẽ có tất cả. Chồng tôi có vốn tư bản. Chồng tôi là người nước ngoài cấp tiến và nhiều thế lực. Tôi không còn sợ bị người đời ăn hiếp. Xứ này nhiều tiền và thế lực, muốn thứ gì chẳng được. Tình cảm ư? Cũng như nén nhang đang ngút khói trên bàn thờ kia, sẽ tàn trong canh giờvà thổi bụi vào không gian. Tôi đã yêu anh, đã yêu ông, đã yêu chàng, đã yêu Tim nhiều như vậy, lần nào cũng như chết trên đoạn đường đến hạnh phúc, chết trong nỗi khao khát và nhung nhớ. Nhưng còn lại gì cho tôi? Hay chỉ là ký ức về ngày không có gió với giọt máu của chính mình lìa khỏi da thịt, là ngày gió độc trên cánh rừng hoàng hôn và một phần thân thểđứt lìa mãi mãi, là cảm giác thoả mãn rồi nhục nhã lúc quỳ xuống biển đêm? Vị phù sa sông Hồng, nước sâm quý, mùi sữa tươi còn vương ký ức không mang hình hài, không thể chụp bắt. Tình yêu, tình yêu là ảo ảnh, là điều không thực. Đêm đêm, tôi thường giật mình tỉnh giấc, hất tung chăn khỏi người, hai tay ôm đầu, cuộn khoanh như một hài nhi trong bụng mẹ rồi lại xoay mình cố dỗ im giấc ngủ. Khi ấy, tình yêu không hiện diện, hay chính vì bao hệ luỵ của tình yêu mà tôi hoá thành hưảo, hoá thành chiêm bao của chính mình. Người nào đó ấn vào tay tôi ly nước.
- Cô dâu uống hết ly nước sẽ thấy khá hơn. Từ trước tới nay, chưa thấy cô dâu nào xúc động đến thế này. Xúc động. Vui nên xúc động. Yêu nên xúc động. Phải thôi, vì chồng tôi là niềm mơước của bao nhiêu cô gái xứ này. Cái xứ con gái nhà quê thì thi đua lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, con gái thị thành xênh xang sánh đôi với Việt kiều, ngoại kiều. Lấy được chồng như tôi làm sao không khỏi xúc động tột cùng. Tôi loạng choạng giữa đám đông. Không còn ngôi nhà, vỉa hè tôi cất tiếng khóc chào đời. Thức ăn, bàn ghế, rượu, nhạc, váy, tóc, màu sắc thi nhau lướt bừa vào đôi mắt viễn thịđột xuất của tôi. Không phải Hilton, nơi tôi muốn diễn ra lễ cưới. Chính tôi cũng chẳng hiểu tại sao mình lại thích Hilton. Có thể vì tôi muốn bạn bè biết tôi kết hôn với người Âu châu. Có thể vì tôi nhớ Tim. Tôi gặp Tim lần đầu tại Hilton. Bất ngờ. Tim hấp dẫn tôi từ cái nhìn thứ nhất. Tôi bỏ định kiến đàn ông Mỹ không có chiều sâu. Đôi mắt buồn nao lòng của Tim chứa đầy đam mê. Sau này, Tim nói cũng bị tôi đốn ngã ngay khi chạm mắt. Suốt thời gian ở bên nhau, tôi nghe Tim nói hai câu bằng tiếng Việt. "Mắt em bổ cau." "Đôi chân em dài thẳng nhưđôi cau đang thì ra trái." Tôi trợn tròn mắt. Bị tôi tra tấn một hồi, Tim chịu khai xuất xứ của hai câu nói hay không kém gì thơ Hồ Xuân Hương. Tim mất 20 đô la cho một ông đồ già ngồi vẽ tranh trên phốđể ông viết ra giấy và dạy cách phát âm. Và mất hai ngày đọc thuộc. "Ông già Việt Nam ngồi vẽ chữ chắc là sẽ dạy cho điều tốt". Tim cười ngô nghê. Lấy 20 đô la chỉđể dạy cho một người nước ngoài hai câu nói nhại thơ người khác. Ông già Việt Nam thời mở cửa! Tôi chạnh lòng xấu hổ.
- Thế cây cau là cây gì?
Tôi hỏi xóc. Tim vụng về ôm tôi hôn.
- Tim đừng nên nói với em những điều mà Tim không hiểu.
Môi tôi xót dưới làn môi Tim. Sau này, Tim đưa tôi lên chùa Trấn Quốc và tự hào chỉ cho tôi cây cau. Tôi cười khen Tim.
- Thế trái cau để làm gì?
Lần này thì Tim dỗi.
- Làm sao anh hiểu rõ truyền thống của người Việt Nam, cũng như em không thể hiểu hết văn hoá Mỹđã nuôi anh trưởng thành.
Ngực tôi như bị một con kiến châm nọc. Nhức tỉ tê và ngứa lan dần. Tim nói đúng. Cả hai nền văn hoá cách biệt. Tim không hiểu quả cau dùng để làm gì, và còn trăm thứ Tim không hiểu. Nhưng tôi trọng Tim bởi lòng thật thà. Anh, người tình đầu tiên, người mang hương vị phù sa sông Hồng có thể thao thao với tôi về trầu cau, song tôi biết không có dáng thẳng đứng của cây cau trong suy nghĩ khi miệng anh nói. Trơn trợt, rồi lời nói của anh cũng theo gió ra đi vào ngày có gió, và chết ngạt trong ngày không có gió. Với Tim, khi nói, Tim nhìn cặp chân tôi và cố hình dung về cây cau. Tôi trọng Tim còn bởi tôi được Tim trọng. Bất cứđiều gì Tim hứa Tim đều làm. Ngay cả chuyện ân ái. Có bận, tôi chưa thấy bờ bến ởđâu Tim đã bị sóng đẩy lật thuyền. Ân hận, vỗ về, xin lỗi, Tim làm như tội tày trời. Tim không biết, tôi bị bỏ bơ vơ giữa biển là chuyện thường tình. Mà đàn bà xứ này đều thế, riêng gì tôi. Những ngày bên Tim, tôi trở thành hoàng hậu. Tôi khám phá bản năng vẫn còn ẩn tận sâu đáy thẳm thân xác. Tim đưa tôi đến tận cùng hang sâu, chỉ cho tôi nền văn minh hồng hoang mà bấy lâu tự tôi che giấu, mà những người đàn ông kia đã không dẫn tôi tới. Họ không đủ sức, không tìm thấy đường hay vì họ nghĩ bởi tôi là đàn bà? Đàn bà phải là kẻ nằm dưới, là đất để gieo mạ. Rồi mạ non thành lúa, thành thóc, họđốt nương tàn rẫy, đến mảnh đất khác khai hoang. Tôi nghe người ta gọi đấy là truyền thống, là văn hoá phương Đông. Và tôi là người Việt Nam, người phương Đông. Đôi khi tôi tự tra vấn chính mình: phải chăng đàn bà da vàng, tóc đen không biết đam mê? Rồi Tim trả lời cho tôi bằng hơi thở kích động và ánh mắt thoả mãn, biết ơn.
- Em tuyệt vời quá. Anh chưa từng biết người đàn bà nào nồng nàn như em. Sự nồng nàn nhạy cảm, không chỉ hoàn toàn là dục vọng xác thịt. Em sẽ là vợ anh nhé, cô gái bé nhỏ?
Bên Tim, tôi thấy mình là hoàng hậu, cớ gì tôi không nhận lời cầu hôn. Khác biệt văn hoá, hố thẳm rất lớn. Nhưng tôi tin bằng tình yêu thương, hố thẳm sẽđược lấp đầy. Tôi không nghĩđến gia đình, lễ giáo khi xúc động nhận lời cầu hôn của một người Mỹ da trắng. Để rồi mấy ngày sau, bẽ bàng nhận ra rốt cuộc mình cũng chỉ là người đàn bà phương Đông từ trong máu huyết.
- Không bao giờđược lấy một thằng Mỹ. Tôi không chấp nhận văn hoá B-52.
- Nhưng anh ấy sẽở lại đây sống cùng chúng ta, sẽ uống nước rau má và ăn bánh chưng bốạ.
Mắt bố như mắt của một bộđội cụ Hồ trên vĩ tuyến 17.
- Để sinh cho tôi những đứa cháu tóc vàng, để gia đình này trở thành một thứ lai căng hổ lốn hả?
Tôi quá nhỏ nhoi và yếu đuối. Dù yêu Tim rất nhiều, dù thích uống Coca Cola hơn nước rau má, tôi cũng đành rời xa Tim. Nhưng trong những giấc mơ, hình ảnh một đứa bé tóc vàng mượt có đôi mắt đen tròn vẫn ám ảnh tôi. Tôi không thấy lai căng hổ lốn như bố nói, tôi thấy nó là đứa bé đẹp nhất trên đời. Rồi vài tháng sau, bố tác thành cho tôi với một ngoại kiều Tây phương. Cũng mắt xanh, mũi lõ. Tôi không thể nào lý giải. Tôi chỉ còn là một người tàn phế. Mỗi người đàn ông tôi yêu, lìa xa tôi, đã mang đi một phần thân thể của tôi. Gặp Tim lần cuối, soi mình lần cuối trong đôi mắt xanh đang lặng xám vì đau đớn của người đàn ông da trắng, tôi thấy vực thẳm đang tụt dưới chân mình. Vực thẳm đào xới tận cùng hun hút một thân xác mỏi mệt. Tim có thể lấp đầy nhưng Tim không có tóc đen, da vàng rải lên che giấu. Tôi để gió và cát ngày ngày rắc bột ớt lên hố thẳm của mình mà không biết rằng gió cát rồi cũng có ngày cạn kiệt. Không còn thấy gió. Không có một chút gió nào. Dường như lạnh, dường như nóng. Ngày hay đêm, thiên đường hay địa ngục? Tôi mở choàng đôi mắt. Thứ ánh sáng nhờ nhợ tôi thường trông thấy hắt ra từ những bóng đèn trong công viên mỗi hoàng hôn không tài nào phân định nổi thời gian. Thời gian, có phải hạn định ngày tôi thoi thóp trên chiếc bàn sắt lạnh để người ta gắp đi một mạng sống. Có phải buổi chiều giông gió trong căn nhà sàn, người yêu da vàng nhưng khác quốc tịch đã mang đi của tôi phần thân thể nhạy cảm nhất. Thời gian, buổi chiều, buổi sáng, hay buổi khuya đêm, là khi nào cũng không cứu được những mất mát của tôi. Bao nhiêu kỷ niệm như một cuốn phim bị nhão, lê thê đứt quãng trong đầu, tôi miên man trôi nổi trong thứ ánh sáng trắng đục. Từng người tình ươm vàng nỗi hoài niệm. Nhón một ngón tay lên ngang ngực, tôi chợt nhận biết có vật lạ. Nó phát tia sáng gọn, sắc, lạnh, xiên chéo không gian nhờ nhợ. Tôi đưa bàn tay dí sát đôi mắt. Kim cương, ánh sáng của kim cương. Chiếc nhẫn lặng thinh ôm ngón tay áp út. Ngón tay đeo nhẫn. Cuộn phim bất ngờ liền mạch, quay nhanh. Tôi nhìn xuống thân mình. Chiếc váy cưới rũ dài niềm hốt hoảng. Tiếng chuông chùa đâu đó lảnh lót điểm giờ. Tiếng chuông vọng hiu hắt vào trí não tôi ngơ ngác, rã rượi, hoang mang. Chuông nửa đêm, như trí não tôi đang nửa đêm. Váy cưới, nhẫn kim cương, xe hoa, dạ tiệc, nước mắt của mẹ, chiếc áo lông thú của chị xô tôi đến nơi này. Nhưng nơi này là đâu? Chú rể, người đàn ông Âu châu, ngoại kiều da trắng mà bố luôn khen đứng đắn, cấp tiến, và uyên bác, sao chàng không ở bên cạnh tôi? Bố nói đồng ý gả tôi cho ngoại kiều này vì chàng đầu tư rất nhiều chất xám vào Việt Nam và sẽđịnh cư vĩnh viễn trên mảnh đất hình chữ S. Tôi manh nha ý nghĩ biết đâu ởđất nước xinh đẹp Âu châu quê hương, chàng phạm trọng tội nên phải trốn đến Việt Nam. Định nói ý nghĩ của mình cho bố. Nhưng nhìn ánh mắt tin tưởng vào tương lai của bố, tôi cúi cụp vâng lời. Vả lại tôi không còn sức, không còn đủ bộ phận của một cơ thểđể chống cự. Mỗi người tình ra đi, một phần cơ thể tôi đã lìa đứt. Tôi như một kẻ tàn phế. Mắt đã không còn, nhìn ai cũng giống nhau, bố gả tôi cho ngoại kiều hay Việt kiều hay Hoa kiều cũng vậy mà thôi. Tai đã không còn thính, chồng tôi nói tiếng Anh hay tiếng Việt Mường, tôi chẳng phải bận lòng. Ngôn ngữ duy nhất còn tồn tại trong tôi là âm thanh những sợi tóc líu ríu nhau trong màn đêm. Chúng thì thầm với nhau không biết ngày mai gió sẽ chuyển chiều nào, hòng xoay theo. Ngược hướng gió, sẽ gãy tan tành. Rồi mái đầu lại trơ trơ, trậc khấc. Chẳng hề gì. Không còn những người đàn ông tôi yêu, tôi chẳng cần tóc tơ, môi thắm. Chẳng để cho ai.
Dòng suy nghĩ miên man của tôi bị cắt đứt cùng lúc với sự choàng ập của bóng tối. Thứ ánh sáng mờ mờ, nhờ nhợđèn công viên lay lắt một hồi đã lụi. Trống rỗng tựa một nhánh cây khô mùa đông, tôi mệt mỏi buông bỏ thân mình xuống nệm. Bóng tối, đám cưới, căn phòng lạ, sự vắng mặt của chú rể, đâu cần để ý. Hãy cố ru mình vào giấc yên lành, thế giới không tồn tại. Cánh tay tôi rơi dài bên tôi, tựa tiếng thở sâu từ ngàn năm trước. Tôi thở mơn man, dịu dàng trên đồi cao cùng người tình xa xứđáng thương. Tôi thở lười biếng, hão huyền bên người đàn ông dậy nực phù sa sông Hồng. Tôi thở không thành tiếng trên triền cát vàng tựa chiếu chỉ vua ban, nghẹn ngào nuốt sâm quý hắc mùi đền đài Trung Hoa. Tôi thở dồn dập kích động, rên hú thanh quản từng hơi trong căn phòng Tim. Nước sông Hồng mùa đông cạn ráo. Dầu cho Hồ Tây tràn nước ra đường, sương mù dăng trắng thành phố. Không khí ẩm ướt đọng thành vũng trong những ngôi nhà phố cổ. Không ai, không gì biết đến sự tồn tại của tôi. Đồng loã cùng thân thể mát thơm, uốn dẻo và trái tim hỗn mang của tôi là màu đêm tối. Tràn lướt trong mênh mông, tôi phiêu du thân thể, phiêu du đêm đặc, phiêu du tâm linh. Tôi thấy mình lặn lội vào rừng thẳm, nơi những cây chò cao vút phế hoang cổ tích, nơi dây leo chằng chịt quấn đan. Tôi thấy mình bì bõm giữa đầm lầy, bùn sánh đặc quệt níu làn da hực hội cơn khát dưới bầu trời xám cứng như mầu trầm uất. Mây tích ngẹt trời mà chẳng làn gió quất ngang. Tôi cưỡi lên mây, tôi tắm trong sình lầy, tôi đu dây leo, tôi chuyền cành chò, tôi thả mình trong vô thức, tôi thả mình trong những phần đời đã mất, tôi buông mình trước phần đời đang trầy trật đêm nay. Trước biển lạnh, người tình Tàu dạo nọ chiếm hữu tôi từ phía sau bắt tôi quỳ gối, chưa một lần cho tôi chủđộng yêu đương. Nay tôi đã thoát khỏi kiếp nô lệ của ông, tôi trở thành người đàn bà trưởng thành. Chồng tôi sẽ bế tôi lên ngồi trên, để tôi được mặc sức tung hoành, chà cây đốn gốc. Không cần anh bế, tôi trườn lên như một con rắn chúa. Bản năng chiếm hữu tung trỗi cơn giông chấm dứt hạ. Tôi không phải nô lệ, tôi là mình, bình đẳng như muôn giọt mưa phùn rơi đều đêm đông, rơi đều không gian duy nhất một mầu đen kịt. Không gian chẳng một thanh âm. Chỉ có tôi đang hào hển thở dốc. Tôi nghe trong hơi thở mình tiếng hú của chú chó có bộ lông xám trong ngôi nhà mối tình đầu năm xưa, tiếng gió tắc nghẹn đồi cao ngày Việt ân cần lần sau chót. Những mối tình, hãy u mê lần nữa trong tim tôi, giữa đêm vu quy của tôi và rời xa tôi mãi mãi. Tôi đạp ngàn lần vòng u mê, vòng nuối tiếc, để rồi đôi chân rã rời trượt dài theo tiếng hú rên. Chỉ có màn đêm mới biết tiếng hú ấy thoát ra từ cõi nào.Lại chính tiếng rao đêm ru tôi vào cơn mộng kéo dài lê thê đánh thức tôi khỏi mê man. Nắng đã tràn bên ngoài, xuyên qua tấm rèm màu nâu xám, chiếu xiên căn phòng sơn mầu vàng nhạt. Tôi nghĩ mình lại rơi vào một cơn mê khác, đến một xứ sở xa xôi nào đó. Không phải căn phòng con gái của tôi, không có những song cửa sổ màu xanh, tấm rèm cửa màu xanh trông ra khu vườn đầy tiếng hoan ca mỗi bình minh. Không có đồng hồ bính boong đếm giờ treo ngoài phòng khách mà bố tôi mang từ bên Nga về mười mấy năm trước. Căn phòng lạ, tiếng rao lạ, cả ánh nắng ban mai cũng lạ lẫm, tôi lại mộng du nơi đâu? Đôi chân tôi sáng nay cũng lạ lẫm dưới thân mình. Có phải đêm qua tôi đã chạy xuyên Thái Bình Dương để tìm người đàn ông xa xứ, để nở hai bầu ngực ôm trọn khuôn mặt ngây thơ lạc mẹ của chàng? Nhấc mình khỏi tấm chăn cũng một mầu nâu xám như tấm rèm cửa, tôi ngạc nhiên vô cùng. Tôi đang mang đôi săng đan trắng mà tôi ưa thích dưới chân. Và trên sàn gạch hoa mầu nâu xám, chiếc váy trắng nằm soãi như một lời nhắc nhở. Chiếc váy cưới. Vu quy. Đêm tân hôn. Không gian tê dại, mạch máu tôi tê dại. Tôi không mộng du, tôi không ở nơi chốn của câu chuyện thần tiên nào, tôi đã trải qua lễ vu quy và đêm tân hôn trong một căn phòng lạ. Tiếng thở sâu dài hàng thế kỷ chìm lặn da thịt, tôi biết chắc cuộc đời thiếu nữ của mình đã hết. Nhưng người đàn ông chấm hết cuộc đời con gái của tôi ởđâu, người đàn ông bố luôn khen giỏi giang, cấp tiến và nhiều vốn tư bản sao không ở bên tôi lúc này? Nhưđáp lại sự băn khoăn của tôi, những tia nắng chạy xiên khắp căn phòng, đan hình mắt cáo lên tấm chăn màu nâu xám. Hất tung tấm chăn, tôi biết mình muốn kiếm tìm. Những tia nắng đột nhiên biến mất. Căn phòng bỗng ảm đạm. Một luồng khí phụt vào thân thể tôi, buốt xót. Trước mắt tôi, trên chiếc ra nâu xám, trong ánh sáng nhờ nhợ của một không gian xám, thân thể một người đàn ông thẳng đơ như chết rồi. Khuôn mặt Tây phương vô hồn trông đến cả vài trăm tuổi nhưng được tân trang màu mè từa tựa bức tượng tôi vẫn thường trông thấy mỗi khi đến cơ quan bố. Toàn bộ thân thể người đàn ông xám lạnh, duy chỉ có hàm râu quai nón rậm rì loen nhoen nhiều vệt trắng. Làn da tôi trở nên xám tái như màu căn phòng, màu suy nghĩ, màu thân hình người đàn ông duy nhất đang hiện diện trên chiếc giường. Căn phòng u ám lạ thường. U ám như không phải là ngày đầy nắng tôi vừa nhìn thấy vài phút trước. Không còn là hoảng hốt, trái tim hoá đá. Người đàn ông hôm qua đã cưới tôi, người đàn ông luôn nhắn tin cho tôi những lời khó hiểu, người đàn ông đã tặng chị tôi áo choàng lông thú chẳng nhẽ lại mang thân hình lạnh giá như một xác chết thế kia? Hình như tôi đang nằm mơ, hình như có ai đó đang trêu tôi. Hoảng hốt, tôi nhìn xuống thân mình. Không một mảnh vải che thân. Tôi hoàn toàn trần truồng, trừđôi săng đan trắng lấp loá dưới chân, vệt sáng duy nhất trên thế gian. Tôi chạy vòng trong căn phòng lạ bằng đôi săng đan, những bước chạy trệch trạc hoang mang. Tôi bẹo cấu khắp thân mình. Tôi phải thoát ra khỏi giấc mơ khủng khiếp này. Không da thịt nào cảm thấy đau. Chỉ có vùng kín ran rát và bàn tay tôi ướt mềm trong lau lách. Hai bàn tay bết dính chất ngà lẫn nhiều sợi bạc mà tôi vẫn còn đủ tỉnh táo để nhận ra không phải sợi đàn bà của mình. Trời ơi, những vệt trắng trên bộ râu quai nón của người đàn ông! Tôi chồm lên thân thể nước đá giữa chiếc giường lạnh xám. Thân hình người đàn ông buốt giá, cứng đơ. Thân hình của một xác ướp! Tôi không biết mình đã làm sao để khoác được chiếc váy lên người, làm sao để thoát khỏi căn phòng nặng nề tử khí. Tôi bay xuống những bậc cầu thang cao quá cỡ, bay qua tấm biển đề khách sạn Eden. Thiên đường, những bậc cầu thang cao để leo lên thiên đường và chạy xuống địa ngục. Đêm qua tôi đã lên thiên đường cùng một xác ướp, tôi đã động phòng với một xác chết. Dấu tích còn nguyên trên bộ râu quai nón của người đàn ông và vùng lau lách mềm mại của tôi. Đêm qua tôi đã bơi qua biển cả, tôi đã lặn trong biển cả, đã phiêu du lên thiên đường. Thưa bà Karl, tối qua ông bà ngủ ngon chứạ? Gió tạt đi lời cậu thanh niên lễ tân ngáp ngủ. Gió tràn ngập khi tôi chạy ra khỏi cổng thiên đường. Bà Karl, chồng tôi tên là Karl. Đàn ông Tây phương, vu quy, thiên đường. Gió phả rạp những cành sấu già phơi trơ mùa đông. Gió tung chiếc váy cưới tôi mang trên mình. Không phải gió độc trên đồi cao nơi tôi đánh mất người tình xa xứ mà tôi thương nhất, không phải gió ngoài biển đêm khi tôi phải guỳ gối uống nước sâm người tình Tàu, không phải gió mơn nhẹ trên ban công ngôi nhà sang trọng trên đất Việt của chàng trai Mỹ trắng. Gió của ngày trống rỗng. Phố xá sáng nay lặng vắng. Bước chân tôi lẫn trong tiếng gió phỉnh gạt con đường về nhà.
Khu vườn màu xanh ngả rạp khi tôi trở về. Không có tiếng chim hót. Hoang tàn như vừa trải qua động đất. Bậc thềm nơi tôi đã cất tiếng khóc chào đời đón tôi im ắng. Ông bà nội trên bàn thờ thản nhiên ngó tôi bằng cặp mắt xa lạ. Tiếng bính boong đồng hồ dường như ai oán. Chẳng cần nghe tôi nói một lời, bố tôi ngảnh mặt vào trong xua tay.
- Sao con lại chạy vềđây? Con không biết cư xử cho ra người lớn được à?
- Nhưng.. nhưng con không hiểu. Con không hiểu sao chồng con lại là một xác ướp. Là trò đùa của mọi người?
Gió theo vào tận trong nhà làm run hai bàn tay tôi, run đôi chân mong manh. Bố quay mặt ra hướng gió, mắt bố là lạ. Vừa lạnh, vừa như khóc, lại vừa như cam chịu.
- Không phải trò đùa. Mà số phận con ạ. Cả dân tộc này không đùa. Con phải quay trở lại khách sạn với chồng con. Số kiếp đã như vậy, gái chính chuyên phải một chồng, biết vâng phục chồng và xã hội.
Giọng bố yếu dần, rồi tan trong sương sớm.
- Nhưng chúng ta có thể thay đổi được số phận mà bố. Con có thể chọn một người đàn ông khác. Hà cớ gì phải lấy một xác ướp?
- Xác ướp ấy là người tốt nhất trong sốđàn ông con đã dẫn về.
Bố bước thẳng vào phòng. Gió lặng trên bàn thờ bố vừa thắp nhang. Tôi biết tôi phải trở lại căn phòng có xác chết đang chờđợi. Mà không phải xác ướp. Là chồng tôi, là ông Karl, ngoại kiều Tây phương uyên bác và nhiều vốn tư bản đã định cưở Việt Nam vĩnh viễn. Là niềm mơước của xã hội. Sau song cửa màu xanh căn phòng con gái, tôi thấy mẹđang lén nhìn tôi và lau nước mắt. Tôi không dám ngoái nhìn nữa. Tôi thương mẹ và thương chính mình.
Nắng toả ngời mênh mang theo bước đôi săng đan trắng quay trở lại thiên đường. Nắng của trời, không phải nắng lòng tôi. Nắng của tôi, gió của tôi đã qua đời trong những cuộc tình giờ chỉ còn là ký ức. Nhưng tôi còn chính mình. Dù cho thân thể và tình cảm đã có lúc đứt đoạn, nhưng tôi còn trái tim biết rung động. Bước lên những bậc cầu thang, tôi bỗng thấy mình lớn hơn. Thưa bà Karl, bà có muốn dùng bữa sáng trong phòng không?Bà Karl, tôi đã là bà Karl. Chồng tôi cho dù đã chết vẫn được người đời tôn trọng. Tôi không thể ngay trong sáng nay đi khỏi thiên đường này, phơi xác ướp ra ngoài nắng kia cho tan rã. Nhưng tôi còn có trái tim. Và cả nắng sáng gió sáng của tôi nữa, chúng sẽ trở về giúp tôi thoát khỏi căn phòng này.
Không nhìn Karl đang nhợt tái, tôi kéo tấm rèm mầu nâu xám, mở toang cửa sổ. Bầu trời trong xanh. Ngày đông mà nắng đẹp đến thế. Tôi xoay tròn đôi săng đan trắng, đi lại trong phòng, đi rảo trước chiếc giường với ý nghĩ mình sẽ trốn thoát. Tôi ngồi xuống. Tôi ngồi im giữa chiếc ghế bành. Ngắm hàm râu bạc. Tôi biết bố rồi cũng sẽ chết. Cuộc đời tôi rồi sẽ mọc cánh. Ngoài kia…
Ngoài kia nắng chiếu ngời nhân loại.
Đỗ Hoàng Diệu
Ngày chưa tắt hẳn, mặt trăng đã lên rồi. Mặt trăng tròn, to và đỏ từ từ lên ở chân trời, sau rặng tre đen của làng xa. Mấy sợi mây còn vắt ngang qua, mỗi lúc một mảnh dần, rồi đứt hẳn. Trên quãng đồng rộng, cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại, thoang thoảng dâng hương thơm ngát. Sau tiếng chuông của ngôi chùa độ một giờ, thì thật là sáng trăng hẳn: trời bấy giờ trong thăm thẳm và cao; mặt trăng đã nhỏ lại, sáng vằng vặc, du như sáo diều; ánh trăng trong chảy khắp cả trên ngành cây, kẽ lá, tràn ngập trên con đường trắng xóa. Trong cái vườn nhỏ bên bờ ao, Tuân nằm trên chiếc chõng kê vào bóng tối, ngửa mặt lên trời. Chàng nhìn trăng qua cành lá tre, cành lá sắc và đen như mực vắt qua mặt trăng, như một bức tranh Tàu. Rêu ở tấm đá bờ ao gần đó bốc lên hơi lạnh. Bức tường hoa giữa vườn sáng trắng lên, và lá lựu dày và nhỏ lấp lánh như thủy tinh. Bóng cây râm mát quá, thân mật và kín đáo. Tim chàng đập mạnh lên. Tuân với tay, và lắng tai nghe: như có tiếng lá động, tiếng chân đi nhẹ nhàng và nhỏ nhắn. Một cành cây cong xuống rồi vụt lên, lá rung động lấp lánh ánh trăng như ánh nước. Khóm hoa đơn rẽ ra, một bóng trắng mơ hồ tiến lại. Tuân giơ tay ôm lấy, cảm động thì thầm: - Em... Nàng không trả lời, yên lặng ngả vào lòng chàng. Tuân cúi mặt vào đống tóc thơm, ngạt ngào một mùi hương quen mến. Tay ôm chặt lấy nhau, quấn quít. Chàng tìm đôi môi xinh đẹp của nàng, hé ra, hai hàm răng chạm vào nhau trong một cái hôn say mê và đau đớn. Hồi lâu, hai người buông nhau ra. Mai gỡ tay vuốt lại mái tóc rối, những sợi tóc tung ra vuốt buồn trên da mặt chàng, vì hai người vẫn gần nhau quá. Họ nhìn nhau không chán. Tuân thấy trong bóng tối của vành khăn, hai con mắt Mai long lanh yêu mến. Chàng lại đỡ lấy nàng, ưỡn xuống để ánh trăng soi tỏ mắt. Không còn bóng tối bí mật và thân yêu nữa; mặt nàng đều đặn, cái cằm nhỏ, cái cổ tròn và trắng như sữa: đẹp quá, xinh quá, khiến chàng say sưa ngây ngất cả người. Mai nằm yên trên tay chàng; Tuân cúi xuống như cúi gần một bông hoa quí. * * * Hai người gặp nhau trong căn vườn nhỏ này mới từ độ có trăng. Những ngày đầu, còn là cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, từ chập tối có bóng trăng đến lúc trăng lặn. Dần dần trăng ở trên trời càng lâu, cuộc gặp gỡ càng dài, và ái tình đôi bên càng đằm thắm, mạnh mẽ. Tuân và Mai yêu nhau với tất cả hăng hái say mê của tuổi trẻ, chàng mười tám, nàng mười sáu, như hai cái mầm non mạnh mới lên. Hai nhà, vốn ở cạnh nhau. Thủa nhỏ, Mai và Tuân vẫn cùng nhau chơi đùa trước cổng; buổi tối, Mai lách rào chui sang vườn nhà Tuân, rủ nhau ngồi thầm thì trong bóng tối như hai đứa trẻ phạm tội. Đến khi tiếng mẹ nàng gọi vọng bên kia, Mai mới bỏ tay Tuân lách hàng rào chạy về. Năm mười ba tuổi - nàng mười một -, Tuân theo bác lên tỉnh học. Chàng quên dần cô bạn bé bên láng giềng, và Mai có quên chàng không, cái đó Tuân không biết. Thỉnh thoảng về thăm nhà, Tuân đứng trong vườn bên này, thấy thấp thoáng bóng Mai bên kia. Có khi nghe tiếng nàng nói lanh lảnh, hay tiếng cười trong khuya lắm, những lúc nàng nói chuyện với các người làm công đập thóc ngày mùa. Một hôm, Tuân ra cánh đồng trở về gặp Mai trước cổng nhà. Thấy Tuân, Mai e lệ, má đỏ bừng, nghiêng chiếc nón che ngang mặt. Tuân dừng lại, không biết nói gì. Một lát yên lặng. Rồi Mai quay đi. Tuân nhìn theo nàng bước trong ánh nắng, trong lòng xúc động bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa. Chiều ấy Tuân ra vườn ngồi trên bực đá bên bờ ao, nhìn cái lối đi cũ của Mai qua hàng rào, bây giờ cây đã lấp cao rồi. * * * Hết nghỉ, Tuân lại ra tỉnh học, lần này chàng không có dịp về thăm nhà luôn nữa. Một năm, hai năm, rồi ba năm, Tuân không biết Mai bây giờ trở nên thế nào. Người con gái nghiêng nón che cái miệng cười chỉ còn để trong tâm trí Tuân một hình ảnh mờ mờ, xa xôi như làng mạc thôn quê ở chân trời sau sương chiều. Gần qua kỳ nghỉ hè, Tuân sửa soạn vào Sầm Sơn tắm bể với vài người bạn, cả mấy cô bạn gái xinh đẹp và táo bạo cùng học một trường với chàng. Hôm sắp đi, mẹ Tuân ra tỉnh thăm con. Bà cụ kể lể việc nhà: - Cô Mai bên hàng xóm, con có nhớ không? Năm nay sắp về nhà chồng. Tuân dừng tay thu xếp đồ đạc, lặng người như nghĩ ngợi sự gì. Lúc sắp về, bà cụ hỏi: - Con không đi Sầm Sơn nữa? - Không; con về quê với mẹ. Chiều hôm ấy, Tuân ra vườn. Ngày đầu tháng, trăng mới lên, mảnh trăng còn khuyết lặng lẽ đi ở góc trời. Nhìn sang bên kia, Tuân thấy bóng Mai mặc áo trắng thấp thoáng ngoài sân. Lòng chàng tự nhiên cảm động và hồi hộp, như đợi chờ một sự sung sướng không bờ bến. Đêm ấy, Tuân chưa dám lên tiếng; chàng tha thẩn ngoài vườn mãi tới khi sương lạnh xuống. * * * Trăng mỗi đêm mỗi tỏ, mỗi khuya hơn. Từ chiều gió thơm nhẹ đã thoang thoảng tới: bông hồng nhung thẫm tan vào đêm tối, còn bông hồng trắng càng trắng mát thêm. Tuân ngồi trên bức tường hoa trong vườn, lòng đầy một sự hân hoan mới lạ. Không biết từ đâu, chàng chắc rằng đêm nay, chỉ đêm nay, Mai sẽ yêu chàng. Hình như Mai, cũng như chàng, đang đợi chờ cái giờ yêu mến say sưa mà hai người ao ước bao lâu. Tuân cúi xuống với một bông hồng thơm ngát đưa lên miệng. Cánh hồng nhung đen sẫm như đêm tối lấm tấm nhị vàng, đậm một mùi hương nồng và ân ái. Khi trăng lên qua ngọn cây, Tuân đi ra cổng; trong bóng tối, Mai đã chờ sẵn đấy rồi. Chàng giơ tay đón nàng vào lòng: Tuân thấy trên ngực chàng tiếng đập mạnh của quả tim bé nhỏ, hơi thở ấm của nàng bên mái tóc. Lời nói đầu của đôi trẻ là một cái hôn đằm thắm và yên lặng. Khi nàng gỡ tay ra, Tuân thấy trên má chàng ướt những giọt lệ nóng của nàng. Ngọt ngào, chàng hỏi: - Em khóc đấy ư? Mai không đủ sức trả lời, gục đầu vào vai chàng. Tiếng khóc nức nở làm rung động tấm thân nhỏ bé của nàng. Tuân thấy trong lòng bỗng cảm thương Mai vô hạn. ái tình của hai người lẫn đắng cay và nước mắt. Họ yêu nhau tha thiết và say mê. Trong bóng tối, nàng nói cho Tuân nghe những nỗi nhớ mong của nàng. Tuy Tuân không biết, nhưng Mai đã yêu từ thuở nhỏ, nhớ mong chàng những ngày Tuân lên tỉnh. Chàng sung sướng khi biết cái tình yêu ấy; nhưng sao bây giờ mới biết? nay mai nàng đã sắp phải đi lấy chồng. Từ đó, khi trăng lên, hai người lại gặp nhau trong vườn, ngồi trên bục đá nói chuyện ái ân, và yêu nhau như thời khắc không bao giờ hết. * * * Tối hôm nay là tối cuối cùng. Tuân và Mai ngồi chờ trên bục đá; mãi tới khuya trăng mới lên, lạnh lẽo và có sương mù. Yên lặng, hai người nghe tiếng lá khô rơi trên cành cây; dưới ao, một con cá đớp động chân bèo, làm mặt nước vòng ra ánh trăng lấp lánh. Mai tựa người vào Tuân, nghẹn ngào hỏi một câu mà nàng đã nhắc không biết bao nhiêu lần: - Mai anh đi thật ư? Nàng ứa nước mắt không nói được nữa. Tuân nắm chặt lấy tay người yêu, không biết trả lời thế nào. Chàng muốn nói an ủi Mai, nhưng lại thôi. Lòng chàng còn trẻ quá, chàng không tưởng được có sự tuyệt vọng không cùng. Chàng không tưởng được rồi sẽ phải cùng với Mai xa nhau mãi mãi. Nỗi buồn không xua đuổi được tình yêu. Mai và Tuân bàng hoàng như người trong mộng. Nàng vòng tay qua cổ Tuân kéo chàng cúi xuống nàng hòa hợp trong một cái hôn lặng lẽ. Đôi môi nàng chảy máu và đau đớn; Mai sung sướng chịu đau, gửi thác trong cánh tay Tuân tất cả thân thể và tâm hồn trong sạch của nàng. * * * Tuân đi đã ba ngày rồi. Trong những ngày ấy, Mai không nhớ gì nữa. Hình như bao nhiêu tâm trí của nàng đã đi theo Tuân tận đâu đâu. Nàng thẫn thờ ngồi lặng hàng giờ, mắt khô vì nàng đã khóc nhiều quá rồi. Sáng nay, họ nhà trai mang đồ lễ đến. Mẹ nàng vui vẻ ra tiếp chuyện. Người chồng sắp cưới của nàng xúng xính trong bộ quần áo mới, ngượng nghịu và hoan hỷ. Mai ngồi yên trong buồng nghe tiếng cười nói ở nhà ngoài. Tối đến, lúc cả nhà yên nghỉ, Mai lặng lẽ lách rào sang bên vườn. Nàng đến ngồi trên bục đá bên bờ ao, chỗ vẫn ngồi với Tuân. Nhưng đêm nay trăng lên muộn. Nàng ngồi mãi, sương xuống lạnh thấm vào da nàng. Bóng tối thêm dày cả góc vườn. Trong cụm hồng phảng phất có bông hoa nở, hương thơm dịu thoang thoảng bốc lên khiến Mai lại nhớ lại lần đầu ngả mình trong tay chàng. Khuya lắm, gần về sáng trăng mới lên: một mảnh trăng buồn rầu ảm đạm, mờ mờ sau rặng cây cuối vườn. Khi ánh trăng lên tới mình nàng, Mai gục đầu trên tay khóc nức nở: lòng tan nát nàng khóc cho tình yêu và cho cuộc đời nàng. Sáng hôm sau cha mẹ Tuân thấy nàng nằm chết dưới vệ ao, mái tóc xổ ra vương lẫn với cánh bèo. Thạch Lam Phía tây thành B. trên một nền đất rộng đổ sát vào chân thành cho lầu gạch ngoài thành được thêm vững chãi, lũ cây chuối mật tha hồ mặc sức mà mọc. Nó um tùm, tàu lá rộng và không bị gió đánh rách, che kín cả bóng mặt trời. Trên áng cỏ bốn mùa ẩm ướt, loài nấm dại sinh nở hết sức bừa bộn.
Khoảng đất ấy ở phía sau kho lúa xây trong thành quanh năm không có vết chân người. Mỗi buổi chiều mặt trời lặn, mấy con chim không tổ mỏi cánh định tìm vào vườn chuối âm u này để ngủ. Nhưng thân chuối cao vút và tàu lá chuối trống trải không đủ là nơi làm tổ, loài chim kêu mấy tiếng thưa thớt rồi lại bay qua ngọn thành. Vào tiết mưa dầm, những trận mưa Ngân đổ lên vườn chuối một khúc nhạc suông nghe buồn thỉu buồn thiu.
Vườn chuối phía tây thành sớm nay quang đãng khác mọi ngày. Trên mặt cỏ ngổn ngang nhựa thẫm màu. Nhựa ấy bị không khí làm se lại, kết nên thành những khối keo quyện chặt lấy bùi cỏ gà.
Cùng một buổi chiều ấy, mấy người vợ lính cơ đứng trong luống bãi dâu trồng ở dưới chân thành, sát ngay với bờ hào được nghe tiếng người hát trên ngọn thành, ở trên đầu họ, đúng ngay chỗ vườn chuối im lìm của mọi ngày.
Tiếng người trên mặt ngọn thành cũ hát rằng:
" Trời nổi cơn lốc " Cảnh càng u sầu " Tiếng loa vừa dậy " Hồi chiêng mớm mau " Ta hoa thanh quất " Cỏ xanh đổi màu " Sống không thù nhau " Chết không oán nhau " Thừa chịu lệnh cả " Dám nghĩ thế nào " Người ngồi cho vững " Cho ngọt nhát dao " Hỡi hồn ! " Hỡi quỷ không đầu ! "
Người ở trên mặt thành hát đến đâu thì tiếng những thân cây chuối đổ xuống mặt đấy tường thành lại kêu roạt roạt đến đấy. Bọn người đàn bà hái dâu ngừng tay bứt lá, nghiêng đầu lắng nghe kỹ. Cái bài hát năm mươi tư chữ nghe như bài sai của thầy phù thủy, đã hát đi hát lại đến mấy lần. Cứ xong mỗi câu thì lại có một tiếng roạt. Chỉ có cây chuối bị chặt mạnh mình lìa hẳn gốc, đổ vật xuống mặt đất thì mới kêu roạt roạt như vậy thôi. Nhưng mà ai chặt chuối? Không phải hẳn là cấm địa, nhưng góc thành sau kho lúa kia cũng là một miếng đất cấm, ai dám vượt phép quan vào đấy mà hát, mà phá vườn. Có chăng là làm loạn.
Những người vợ lính cơ, quen sống trong không khí loạn lìa, chiều nay và đêm nay bàn tán mãi về cái tiếng hát trên vườn chuối mặt tường thành. Chồng họ cũng lấy làm lạ và tự nhủ ngày mai vào trại sẽ hỏi chuyện cho rõ.
Buổi sáng hôm sau, bọn vợ lính cơ, thêm được ít người tò mò nữa kéo đến vườn dâu ngoài thành, vẫn nghe rõ người ta chặt chuối trên mặt thành, với những câu hát rõ mồn một:
" Ta hoa thanh quất " Cỏ xanh đổi màu " Sống không thù nhau " Chết không oán nhau...
Khi nghỉ ngơi, lúc họ mang chuyện đó về nhà thì những người lính cơ đều ra vẻ cảm động sợ hãi và cắt nghĩa:
- Ông Bát Lê sắp làm việc đấy.
- ???
- Ông lớn sắp đem mười mấy người ra chém. Và tiếng người hát trên mặt thành là tiếng ông Bát Lê đang tập múa thanh quất ở vườn chuối đấy.
- Múa thanh quất? Ở vườn chuối? Sao lại hát những câu ghê thế? Và ông Bát Lê vốn chém người đã nổi tiếng, còn phải tập với tành gì nữa?
- U mày không hiểu. Lâu nay ông Bát không phải khai đao vì Ông Lớn thấy già yếu muốn cho nghỉ tay. Mỗi lần có án trảm, ông Bát chỉ phải ra pháp trường cho có mặt thôi. Còn công việc thì đã có người khác đỡ tay. Nhưng vẫn cứ được tiền thưởng. Đã đến gần một năm nay ông Bát không cầu đến thanh quất. Không hiểu tại sao, lần này Ông Lớn lại cho gọi ông Bát ra cho kỳ được và xem chừng như ngài săn sóc đến cái vụ xử trảm này nhiều lắm.
Lui vào tư thất, quan Tổng đốc sung chức Đổng lý Quân vụ, nhác thấy lão Lê đang co tay úp lên mang tai nhìn vào đám vàng son lộng lẫy nhà riêng mình, ngài liền quở:
- Ết bữa nay, chú đi đâu? Ta cho thằng Cửu nó sang gọi mấy lần đều thấy đóng cửa.
- Bẩm lạy Ông lớn, ít lâu nay con về nhà quê. Giá như ngày trước, có khi nào con dám đi xa, sớm tối lúc nào cũng phải ở trong nội thành, phòng những lúc Ông Lớn bất thần gọi đến. Nhưng từ hồi gần đây. Ông Lớn thương phận già nua cho con được nghỉ tay đao, con có mạn phép về thăm nhà. Được tin Ông Lớn cho đòi, con vội vã vào hầu, xin Ông Lớn tha tội. Con chờ lệnh Ông Lớn truyền xuống.
- Thôi, cho đứng dậy.
Quan Đổng lý Quân vụ ngả mình trên ghế bành vàng và son, hất hàm hỏi tên bát phẩm đầy tớ già đang co ro người bên chiếc cột:
- Liệu bây giờ chém còn mát tay nữa không?
- Dạ.
- Dạ sao? Chú có biết ta sắp cho xuống cái lệnh chi không?
- Dạ.
- Có mười hai tên tử tù sắp phải hành hình. Quan Công sứ muốn được thị kiến lúc bọn hắm chịu án trảm. Ngươi chém thế nào cho gọn thì chém, hễ chém một đầu đến hai nhát thì không những ta truất tiền thưởng mà người còn bị quở nữa. Chém cho thực ngọt.
- Dạ.
- Tiền thưởng này chính của Quan Công sứ cho. Ta muốn giữ phần cho người nên ta cho gọi vào mà lĩnh lấy việc này, gọi là kiếm một chút bổng để dưỡng tuổi già. Chú phải biết khi nhận lấy muời hai tên tử tù là chú phải làm việc cho đầy đủ. Chớ để phiền đến ta. Ta đã trót khoe khoang cái tài chém "treo ngành" của chú với quan Công sứ. Chú nghĩ thế nào?
- Dạ, bẩm Ông Lớn đã thương đến phận tôi tớ chúng con xin hết sức tuân theo. Nhưng bây giờ con già yếu lắm, không biết có còn làm được việc như hồi xưa nữa không. Vả chăng gần một năm nay không cầm đến mã tấu con e có điều hơi lạc mất đường đao.
- Ta đã nghĩ đến chuyện đó rồi. Chú còn đủ thời giờ để tập lại lối chém treo ngành. Nếu cái nghề chém đặc biệt của chú không thể truyền lại cho một người nào được thì một lần cuối cùng này nữa, chú cũng nên cho một vị quan Tây ở đây thấy rõ cái cách chém của một người đầy tớ hầu cận ta là như thế nào.
- Dạ, bẩm Ông lớn...
- Chú đừng nhiều lời. Đây này, ta cho chú mượn thanh quất của ta mà làm việc. Sẵn có vườn chuối ở sau kho lúa, cho phép chú lên đó mà tập. Có ai ngăn cản, cứ đưa cái tín bài này ra cho họ nom rõ.
Quan Đổng lý Quân vụ rút khỏi ống bút trên bàn một lá thẻ đỏ, viết mấy chữ thảo vào mặt thẻ sơn trắng, trao cho Bát Lệ
Thế là từ hôm ấy Bát Lê lĩnh thanh quất của quan Tổng đốc leo lên tường thành, xông xáo trong vườn chuối, hết sức tự do, hết sức tàn nhẫn, chém ngang thân loài thực vật, trước khi chém vào cổ mười hai tên tù đang nằm đợi ngày cuối cùng.
Vườn chuối trên mặt thành vốn mọc không có hàng lối nhất định. Ông Bát phẩm Lê phải chọn lựa mãi mới được mấy dẫy chuối mọc theo hàng lối thẳng thắn. Y soạc cẳng, lấy bước chân đo những quãng trống từ một gốc chuối này đến một gốc chuối khác. Tiến lên, lùi xuống, đo ngang, đo dọc tự cho là tạm tạm được, y bèn nhẹ nhàng phát hết những tàu lá chuối rườm rà. Đấy là cái khu dọn dẹp sẵn để nhân lấy sự thí nghiệm sau hết của một thanh quất bị bỏ quên đã lâu ngày.
Trước khi hoa thanh quất trong mấy hàng chuối được chọn lựa kỹ càng kia, Bát Lê đã múa đao chém lia lịa vào thân mọi cây chuối khác, chém không tiếc tay, chém như một người hết sức tự vệ trong một cuộc huyết chiến để mở lấy một con đường máu lúc phá vòng vây. Một buổi sớm, y nhảy nhót trong vườn chuối, đưa lưỡi gươm qua bên phải lại múa lưỡi gươm qua bên trái, thanh gươm hai lưỡi gọn gàng, nhanh nhẹn phạt qua thân mấy trăm cây tươi còn nặng trĩu lớp sương đêm. Mảnh khăn vuông vải trắng bịt tóc Bát Lê đã đẫm ướt và nhựa chuối chát thấm vào đất, gặp ánh nắng sớm, đã xuống màu dần dần.
Trên đống thân cây trơn ướt, Bát Lê vẫn làm việc, nhẩy nhót như một kẻ điên cuồng. Cứ mỗi một cây chuối gẫy gục xuống cỏ đánh roạt một cái thì Bát Lê lại cất tiếng hát:
" Sống không thù nhau " Chết không oán nhau
Câu hát được những tiếng cây chuối đổ chấm câu cho và đã vẳng từ trên mặt thành xuống mặt một bãi dâu ở chân thành...
Tập như thế cho thuần tay hết một buổi sớm và một buổi chiều. Bát Lê sớm ngày hôm sau lại trở lại vườn chuối đã rầu cả lá, đã khô cả vết thương. Y hồi hộp chống gươm xuống mặt đất ẩm ngổn ngang sự tàn phá, như một võ sinh sắp trổ tài ở võ trường với sự phân vân, lo ngại của phút biểu diễn. Rồi Bát Lê trịnh trọng tiến vào cái khu vườn chuối đã dọn từ hôm trước để nhận lấy lưỡi gươm thí nghiệm cuối cùng của một cuộc tập chém. Y đứng vào giữa hai dãy chuối, tay phải cầm ngang thanh quất.
Y lùi lại ba bước, lấy hơi thở cho đều, vừa hát to câu:
" Tiếng loa vừa dậy "
vừa tiến mạnh lên, thuận tay chém vào cây chuối đầu tiên dãy bên phải. Đà gươm mạnh từ cao soải xuống theo một chiều chếch, tưởng gặp đến gỗ cứng cũng lướt qua. Thế mà thanh quất chỉ ngập vào chiều sâu thân cây độ chín phần mười. Lưỡi thanh quất bị ngừng ở cái cữ ấy, rồi lại được lấy ra khỏi thân cây chảy mủ.
Vừa giật lưỡi thanh quất khỏi thân cây đang từ từ gục xuống, vừa hát một câu nữa:
" Hồi chiêng mớm mau "
Bát Lê lại tiến th"m ba bước đến ngang tầm cây chuối hàng đầu dãy bên trái. Bái Lê thuận đà thanh quất, lại chém xuống đấy một nhát thứ hai. Một thân cây thứ hai gục xuống nữa như một thân hình người quỳ chịu tội.
Thế rồi vừa hát, vừa chém bên trái, vừa chém bên phải. Bát Lê đã hát hết mười bốn câu, và đánh gục mười bốn cây chuối. Bát Lê quay mình lại, ngắm các công trình phá hoại của mình. Thì ở mười bốn cây chuối chịu tội kia, thân trên bị chém vẫy còn dính vào phần gốc bởi một lần bẹ giập nát.
Bát Lê mỉm cười, gỡ cái khăn chùm trên đầu, lau lưỡi gươm vào đấy, vuông vải lại dẫm thêm chất nhựa xám.
Thế là xong một cuộc tập chém lối treo ngành. Và Bát Lê cũng vui vẻ trong lòng đợi ngày nhật tù. Đi từ bề cao nền cỏ xuống chân thành, qua những bậc cấp thúc vào lòng đất. Bát Lê chốc chốc lại dừng bước lại và ưỡn mình về phía sau, ngắm cánh tay khẳng kheo mình đang lăm lăm cầm lưỡi gươm.
Nội cỏ trước dinh quan Đổng lý Quân vụ một buổi chiều thu quyết đã đổi màu. Mọi khi, ở đấy chỉ có bê, bò được thả lỏng cúi cổ ngốn áng cỏ tươi bên cạnh một tốp lính hiền lành, tay cầm lưỡi liềm cắt cỏ về cho ngựa quan ăn. Bây giờ ở đấy, người dựng lên một cái nhà rạp cỏ tàn, cỏ quạt, cỏ cờ ngũ hành.
Trước nhà rạp người ta chôn sẵn mười hai cái cọc tre bị vồ gỗ đập mạnh xuống toét cả đầu. Và đánh đai lấy khu nhà rạp rộng độ một mẫu, mấy trăm lính mặc áo có dấu, có nẹp đã tề chỉnh tuốt gươm trần để thị uy.
Trời chiều có một vẻ dữ dội. Mặt đấy thì sáng hơn là nền trời. Nền trời vẩn những đám mây tím đỏ vẽ đủ mọi hình quái lạ. Những bức tranh mây chó màu thẫm hạ thấp thêm và đè nặng xuống pháp trường oi bức và sáng gắt.
Mọi người chờ đợi một cái gì.
Từ phía nhà ngục, mười hai con người chậm chạp tiến tới giữa hai tốp lính áp giải. Bãi cỏ im lìm đến nỗi tiếng gông lũ tù giây va vào nhau theo một nhịp bước rụt dè nghe cứ rõ mồn một như tiếng sênh người chấp hiệu định liệu bước đi cho cỗ đòn đám.
Không biết từ đâu ra, ông Bát Lê đứng sẵn chỗ cọc tre và trong một lát đã buộc xong bọn người đợi chết vào cọc. Lũ tử tù bị trói giật cánh khuỷu, quỳ gối trên mặt đất, khom khom lưng, xếp theo hai hàng chênh chếch nhau, chầu mặt vào rạp. Những người giữ phần việc ở bãi đoạn đầu đang bóp hông, nắn xương cổ và tuốt cho mềm sống lưng lũ tử tù. Họ cần om thế nào cho tội nhân lúc quỳ phải để được gót chân ngửa đúng vào cái mẩu xương cụt nơi hậu môn. Như thế, tử tù sẽ phải rướn mình lên mà nhận lấy lưỡi đao thả mạng xuống cái cổ căng thẳng. Họ lạnh người dần dần. Sinh khí chừng như đã thoát hết khỏi người họ. Trông xa, họ có cái cứng thản nhiên của những tượng đá tạc hình người Chiêm thành quỳ trước sân đền thờ vua Lý.
Tiếng nhạc bát âm thổi bài Lưu thủy trường gần mãi lại. Rồi trong một giây phút mọi người lắng nghe tiếng sênh tiền. Ai nấy nín thở. Trông ra cờ quạt kín cả nền trời và lính tráng kín cả mặt cỏ. Bụi cát bay mo như lúc có cuộc hành quân. quan Công sứ mặc đồ binh phục trắng có ngù kim tuyến đi ngang hàng cùng quan Tổng đốc. Hai quan đầu tỉnh - một người đi ghệt, một người đi ủng đều gò bước đi cho nó ăn nhập với cái long trọng của pháp trường. Những tên lính tỉnh gầy ốm che sát vào người hai Ông Lớn mọi thứ tàn vàng, tán lía, lọng xanh. Cái đầu chúng không dám phạm thượng cúi gầm xuống mặt đất, nhìn cánh cỏ may chọc thủng ống quần mình.
Trong nhà rạp, các quan an vị. Ông thông ngôn người Nam kỳ đứng khoanh tay đằng sau quan Lưu trú Pháp. Quan Tổng đốc nói trước:
- Những người sắp bị hành hình kia là dư đảng giặc Bãi Sậy. Ty chức rất mong rằng đấy là những kẻ phiến loạn cuối cùng. Và nhờ hồng phúc của Quan Lớn, cuộc trị an ở xứ này chóng định.
Bát Lê cầm gươm tiến đến trước nhà rạp, vòng tay thu lưỡi gươm lại, vài một vái, cúi mặt đứng im. Quan Tổng đốc nhớm mình khỏi mặt ghế bành:
- Xin phép Quan Lớn cho ty chức được trình với Quan Lớn một tên đầy tớ trung thành. Hắn là đao phủ thủ tại pháp trường hôm nay.
- Có phải cái người mà Quan Lớn nói là có tài chém đầu người chỉ một nhát mà đầu vẫn dính vào cổ bằng lằn da cổ đó không?
- Dạ. Mấy hôm nay hắn hạ thủ trong một hơi những mười hai cái đầu. Bây giờ để xin ra lệnh khai đao.
Quan Công sứ gật. Viên giám trảm và Bát Lê đều lùi ra ngoài rất mau.
Một tiếng loa. Một tiếng trống. Ba tiếng chiêng. Rứt mỗi hồi chiêng mớm, thì một tấm linh hồn lại lìa khỏi một thể xác.
Tùng! Bi li! Bi li!
Bát Lê bắt đầu hoa không thanh quất mấy vòng. Rồi y hát những câu tẩy oan với hồn con tội. Trong nhà rạp các quan chỉ nghe thấy cái âm lơ lớ rờn rợn. Quan Công sứ chăm chú nhìn Bát Lê múa lượn giữa hai hàng tử tù và múa hát đến đâu thì những cái đầu tội nhân bị quỳ kia chẻ gục đến đấy. Những tia máu phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một chếc thủ cấp nào rụng xuống.
Bát Lê làm xong công việc, không nghỉ ngơi chạy tuốt vào đứng trước nhà rạp. Bấy giờ quan Công sứ mới nhìn kỹ. Y mặc áo dài trắng, một dải giây lưng điều thắt chẽn ngang bụng. Thấy trên quần áo trắng của y không có một giọt máu phun tới, quan Công sứ gật gù hỏi quan Tổng đốc để nhớ lấy tên họ một người đao phủ có lối chém treo ngành rất ngọt. Ngài thưởng cho Bát Lê mấy cọc bạc đồng bà lão.
Lúc quan Lưu trú gần cầm mũ cáo từ về tòa Sứ, quan Tổng lý quân vụ còn ân cần buộc ông thông ngôn Nam kỳ dịch cho đủ câu này:
- Bẩm Quan Lớn, chém treo ngành như thế này là phải lựa vào những lúc việc quân quốc thanh thản, số tử tù ít ít thôi. Vào những lúc nhộn nhạo quá, tử tù đông quá, thì ty chức đã có cách khác. Là chỗ đôi cây tre đực dài ra, cặp vào cổ tử tù xếp hàng và nối đuôi quỳ hướng về một chiều. Đại để nó cũng như là cái lối cặp gắp chả chim mà nướng ấy. Rồi Bát Lê sẽ cầm gươm mà róc ngang như người ta róc mắt mía.
Lúc quan Công sứ ra về, khi lướt qua mười hai cái đầu lâu còn dính vào cổ người chết quỳ kia, giữa sân pháp trường sắp giải tán, nổi lên một trận gió lốc xoáy rất mạnh. Thường những lúc xuất quân bất lợi, tưởng cơn gió lốc cuốn gẫy ngọn cờ súy, cũng chỉ mạnh được thế thôi. Trận gió soắn hút cát, bụi lên, xoay vòng quanh đám tử thị
Bấy giờ vào khoảng giữa giờ Thân.
Nguyễn Tuân Vang Bóng Một Thời
| |